Lê Đình Chinh là chiến sĩ đầu tiên ngã xuống ở mặt trận biên giới phía Bắc khi tròn 18 tuổi. Người lính trẻ đã trở thành biểu tượng cho lòng quả cảm, xả thân vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
35 năm kể từ ngày vĩnh viễn mất đi người con trai yêu quý,
cụ bà Khương Thị Chu (thân sinh liệt sĩ Lê Đình Chinh) vẫn hằn nguyên nỗi đau.
Bà bảo, dù chiến tranh đã lùi xa theo năm tháng nhưng mỗi năm đến dịp này, lòng
bà lại quặn thắt.
|
Lê Đình Chinh hy sinh khi mới tròn 18 tuổi. Ảnh: Tư
liệu
|
Bà Chu quê ở Thạch Thất (Hà Tây cũ), còn người chồng, ông Lê
Đình Tùng quê ở xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Năm 1955, sau khi
tham gia chiến trường miền Nam, ông Tùng ra Bắc và công tác ở Nông trường Ba Vì.
Tại đây, ông bà gặp nhau rồi nên duyên chồng vợ. Năm 1960, bà sinh anh Chinh.
Vài năm sau, ông bà xin chuyển công tác vào Nông trường Sông Âm, huyện Ngọc Lặc
(Thanh Hóa).
Bà Chu kể, cuộc sống ở nông trường miền núi rất khó khăn, vất
vả. Lê Đình Chinh là con cả trong nhà nên ngoài việc học hành, còn phải phụ giúp
bố mẹ chăm sóc 5 em nhỏ. Sau mỗi buổi đến trường, Chinh thường lên đồi chặt củi
hay quảy thùng xuống làng gánh nước về cho mẹ giặt giũ, thổi cơm…
Một ngày đầu tháng 10/1975, Lê Đình Chinh - khi ấy tròn 15 tuổi,
học sinh giỏi toàn diện của khối 7, Trường cấp 2 xã Nguyệt Ấn - lén đi đăng ký
khám tuyển nghĩa vụ, xung phong vào bộ đội.
“Ban đầu nó không dám nói ra ý định nhập ngũ vì sợ mẹ khóc. Khi
tôi biết chuyện, nó nằng nặc thuyết phục khiến chúng tôi đành chấp nhận để con
tòng quân”, bà Chu nhớ lại.
|
Sau 35 năm nằm lại biên giới phía bắc, vào tháng 1/2013 di hài
Liệt sĩ Lê Đình Chinh được quy tập về nghĩa trang quê nhà. Ảnh: Lê
Hoàng
|
Cụ bà tâm sự, “ngày ấy cả nước đều thế, thanh niên trai tráng ai
cũng muốn tòng quân vào Nam chiến đấu. Tuy mới 15 tuổi, nhưng thằng Chinh cao
to, khỏe mạnh và nhanh nhẹn lắm. Đúng ngày 16/2/1975, Chinh lên đường nhập ngũ,
vợ chồng tôi bận họp ở nông trường, còn các em nó lại quá nhỏ nên chẳng ai tiễn
chân con…”.
Sau thời gian huấn luyện ở Triệu Sơn, Chinh được biên chế vào
đại đội 6, tiểu đoàn 2, trung đoàn 12, Bộ tư lệnh Công an vũ trang nhân dân (nay
là Bộ đội biên phòng). Đơn vị của Chinh được điều động vào chiến trường Tây Nam.
Tại đây, anh cùng đồng đội tham gia nhiều trận đánh chống Pol Pot và bị thương.
Chinh được đưa ra Bắc điều trị. Lành vết thương, người lính trẻ xin trở
lại đơn vị cũ.
Năm 1978, đơn vị của Lê Đình Chinh được điều động lên Lạng Sơn,
bảo vệ biên giới phía Bắc.
“Hay tin Chinh hành quân lên xứ Lạng, ngày nào tôi cũng mở đài
nghe tin tức chỉ mong con bình an đến ngày trở về. 6 giờ chiều 25/8/1978, nghe
đài báo tin con trai đã hy sinh ở Lạng Sơn khi bảo vệ đồng bào, chân tay tôi
rụng rời nhưng vẫn không tin đó là sự thật. Nhiều công nhân trong nông trường
động viên rằng, “chắc không phải thằng Chinh đâu, thiếu gì người trùng họ trùng
tên”. Nhưng bằng linh cảm của người mẹ, tôi biết mình đã vĩnh viễn mất con…”,
mắt bà Chu nhòa lệ.
“Ông nhà tôi đánh điện ra đơn vị nhắn rằng, “Bố ốm nặng, con về
ngay”, nhưng không thấy hồi âm. Ít ngày sau, vài cán bộ trong đơn vị về gia đình
gửi giấy báo tử và làm lễ truy điệu cho nó. Giây phút đó, tôi tưởng mình không
sống nổi”, bà Chu nhớ lại thời khắc đau đớn của đời mình.
|
Bà Khương Thị Chu khóc nghẹn ngày đón di hài con trai về xứ
Thanh. Ảnh: Lê Hoàng
|
“Dẫu biết chiến tranh là phải đối diện với mất mát hy sinh
và cả sự chia lìa… nhưng có người mẹ nào không đứt từng khúc ruột khi mất đi
giọt máu của mình”, bà Chu nghẹn giọng và dặn lòng, “dẫu sao thì sự hy
sinh cho Tổ quốc cũng là nỗi đau vinh quang”.
Với đồng đội và nhiều thế
hệ người Việt Nam ngày ấy, tên tuổi Lê Đình Chinh đã trở thành biểu tượng cho
lòng quả cảm xả thân vì tổ quốc.
Thắp xong nén hương lên mộ phần của người thuộc cấp năm xưa, đại
tá Nguyễn Đức Hiệu, nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Trung đoàn 12 vào thời điểm anh
Lê Đình Chinh hy sinh, hiện là Trưởng Ban liên lạc của đoàn Thanh Xuyên cho
biết, ký ức bi hùng về sự hy sinh của Lê Đình Chinh trong ông vẫn vẹn nguyên như
mới xảy ra hôm qua.
Theo đại tá Hiệu, năm 1978, tình hình biên giới Việt - Trung,
đặc biệt là ở khu vực cửa khẩu cực kỳ căng thẳng, dòng người Hoa từ Việt Nam về
nước ngày một nhiều.
Ngày 12/7/1978, phía Trung Quốc bất ngờ ra lệnh đóng cửa biên
giới, dẫn đến việc hàng ngàn người Hoa bị dồn ứ ở các cửa khẩu. Họ dựng lều bạt
ngay trong khu vực cấm, làm náo loạn cả một vùng biên, gây nhiều khó khăn cho ta
trong việc giữ gìn an ninh trật tự. Một số người tổ chức gây rối ở khu vực cửa
khẩu. Vì vậy, giải tỏa người Hoa ở các cửa khẩu trở thành nhiệm vụ cấp bách.
Tỉnh Cao Lạng (hợp nhất Cao Bằng và Lạng Sơn) quyết tâm giải toả
những người Hoa đang ùn lại cửa khẩu Hữu Nghị. Ban “Giải toả người Hoa” được
thành lập. Tỉnh ủy Cao Lạng huy động Công an vũ trang cùng các lực lượng khác ở
địa phương phối hợp tham gia kế hoạch, lấy lực lượng Đồn biên phòng Hữu Nghị và
Trung đoàn 12 (đoàn Thanh Xuyên) làm nòng cốt.
|
Hơn 35 năm trôi qua, đại tá Nguyễn Đức Hiệu (đứng bên phải) vẫn
vẹn nguyên ký ức về sự hy sinh của liệt sĩ Lê Đình Chinh. Ảnh: Lê
Hoàng
|
Ngày 25/8/1978, đoàn liên ngành với nòng cốt là Hội Phụ nữ đã
đến đồi Pù Tèo Hào ở khu vực giáp biên giới, động viên những người Hoa trở về
nơi ở cũ làm ăn sinh sống.
Đúng 8h30 sáng, đoàn vừa đến thì một nhóm côn đồ lăm lăm gậy
gộc, dao quắm, gạch đá trong tay cùng sự hỗ trợ của rất nhiều công an từ bên kia
biên giới tràn sang km số 0, chiếm đồi Pù Tèo Hào, xông vào hành hung đoàn cán
bộ.
Trước tình huống trên, lực lượng của Đồn biên phòng Hữu Nghị vừa
tay không chống đỡ, vừa mở đường cho các cán bộ đoàn công tác chạy xuống chân
đồi. Hàng chục công an biên phòng Trung Quốc mặc thường phục từ bên kia biên
giới kéo sang. Một cuộc chiến không cân sức giữa biên phòng Việt Nam và nhóm côn
đồ đã diễn ra ác liệt trên sườn đồi Pù Tèo Hào.
Anh Lê Đình Chinh, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2, khi đó ở dưới
chân đồi đã cùng đồng đội xông lên giải vây và cứu được một cán bộ phụ nữ tên
Thuận đang nằm ngất xỉu. Nghe tiếng kêu cứu của Lê Xuân Tước, anh tiếp tục
quay lại cứu đồng đội thoát nạn.
Giữa vòng vây của đối phương, Lê Đình Chinh bị một viên đá ném
vào gáy, máu chảy đầm đìa nhưng vẫn xông lên. Bất ngờ, một tên côn đồ nấp sau
chiếc lán dùng gậy vụt ngang ống chân Chinh làm anh ngã sấp xuống đất. Bốn người
Trung Quốc từ bên kia biên giới lao sang, dùng dao quắm chém tới tấp xuống người
chiến sĩ trẻ. Lê Đình Chinh hy sinh lúc 10h30 trên đồi Pù Tèo Hào, gần sát km số
0.
Theo lời Đại tá Hiệu, ngay sau khi Lê Đình Chinh hy sinh,
các cơ quan chức năng của Việt Nam đã yêu cầu Đồn trưởng Trương Văn Tự của Đồn
biên phòng Nam Quan bên Trung Quốc sang làm việc.
“Cuộc đấu tranh chính trị giữa ta và họ diễn ra hết sức căng
thẳng, kéo dài từ 11 giờ trưa đến 4 giờ chiều 25/8/1978. Cuối cùng, phía Công an
biên phòng Trung Quốc đã phải ký vào biên bản, thừa nhận việc Công an biên phòng
Trung Quốc vượt biên giới sang sát hại Lê Đình Chinh ngay trên đất Việt Nam.
Biên bản này sau đó được chuyển đến cấp trên để chúng ta đấu tranh ở tầm cao
hơn”, đại tá Hiệu nói.
Cũng theo ông Hiệu, nếu không có sự thừa nhận này, tình hình
biên giới còn diễn biến nguy hiểm hơn, bởi phía Trung Quốc đã tận dụng triệt để
sự kiện được gọi là “nạn kiều” để gây áp lực với Việt Nam.
|
Mỗi lúc ký ức ùa về, bà Chu lại mang tấm hình hai mẹ con chụp
chung khi anh Chinh mới lên 2 tuổi ra ngắm. Ảnh: Lê
Hoàng
|
Thi hài Lê Đình Chinh sau đó được an táng tại hang Muối,
xã Hồng Phong, huyện Văn Lãng, gần nơi anh hy sinh. Đến năm 1979, anh được đồng
đội quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ huyện Cao Lộc, Lạng Sơn.
Ông Cao Việt Bắc, Phó ban liên lạc đoàn Thanh Xuyên (nguyên
Trưởng ban chính sách Trung đoàn 12 vào những năm 1978 - 1979) nhớ lại, ông được
cử về Nông trường Sông Âm báo tin cho gia đình, đồng thời đón người thân của
Chinh ra Hà Nội dự Lễ tuyên dương công trạng do Trung ương Đoàn tổ chức và nhận
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do Chủ tịch nước truy tặng.
“Đó là buổi lễ vinh danh một cá nhân long trọng và xúc động nhất
mà tôi từng được tham dự. Người dân các tỉnh phía Bắc đã cắm cờ đỏ rực dọc hai
bên quốc lộ từ Hà Nội lên tận cửa khẩu Hữu Nghị, Lạng Sơn để đón đoàn xe của đơn
vị. Bấy giờ cả nước đều hướng lên biên giới phía Bắc, thanh niên cả nước đều học
tập tấm gương anh dũng của Lê Đình Chinh”.
Lê Hoàng