Biên giới Việt Nam

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Trung úy hy sinh tại Trường Sa về với đất mẹ

Sáng 23/1, chiếc xe biển xanh tới đầu con ngõ ở xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An, đôi vợ chồng già nhào tới ôm thành xe gào khóc. Con trai cả của ông bà đã hy sinh khi làm nhiệm vụ tại quần đảo Trường Sa.

Trong cái lạnh của chiều đông ngày cận Tết, hàng trăm người thân, bạn bè, đồng đội chực chờ tại ngôi nhà nhỏ của ông Phan Văn Hà và bà Trần Thị Đúc ở xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành (Nghệ An) để đón thi thể trung úy Phan Văn Hạnh.
tiendua2-5620-1390447863.jpg
Di ảnh trung úy Phan Văn Hạnh tại quê nhà. Ảnh: Văn Hải

Một trung úy hy sinh tại Trường Sa

Trong khi làm nhiệm vụ tại đảo Tốc Tan C (quần đảo Trường Sa), trung úy Phan Văn Hạnh đã hy sinh.

Phòng Chính sách, Cục Chính trị Hải quân cho biết, sáng 18/1, Trung úy Phan Văn Hạnh cùng đồng đội nhận nhiệm vụ tuần tra bảo vệ đảo Tốc Tan C. Đang chạy quanh đảo kiểm tra đường biên thì chiếc xuồng CQ bất ngờ gặp phải sóng lớn, nước xoáy nên bị lật úp. Va đập mạnh khiến trung úy Phan Văn Hạnh hy sinh.
Lãnh đạo Bộ tư lệnh vùng 4 Hải quân cử người vào cảng đón thi thể trung úy Hạnh, làm các thủ tục nhập quan tại bệnh viện 175 (Bộ Quốc phòng), rồi đưa anh về quê an táng.
xuong-7922-1390450345.jpg
Một chiếc xuồng CQ của Hải quân Việt Nam ở đảo Đá Tây, phục vụ việc tuần tra. Ảnh: Hoàng Thùy

Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2014

Lính Trung Quốc châm ngòi trận hải chiến Hoàng Sa 1974

Khi lính Việt Nam Cộng hòa lên các đảo cắm cờ khẳng định chủ quyền, lính Trung Quốc đã nổ súng, bắn chết một thiếu úy và một trung sĩ, châm ngòi trận đấu pháo ác liệt, nhân chứng Trần Dục kể.


Quãng thời gian 40 năm sau trận hải chiến khiến cựu thượng sĩ Trần Dục (74 tuổi, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế), quản trưởng khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ4) Việt Nam Cộng hòa, không còn nhớ rõ khuôn mặt đồng đội, nhưng ký ức về giây phút sinh tử bảo vệ quần đảo Hoàng Sa vẫn hiển hiện.
Đưa đôi mắt nhăn nheo nhìn ra khoảng trống trước mặt, cựu binh già kể, ngày 16/1/1974, tàu HQ4 đang làm nhiệm vụ tuần tiễn dọc bờ biển từ Bình Định - Quảng Trị thì được lệnh ra Hoàng Sa. Khi nhận lệnh, giống hơn 160 binh sĩ trên tàu, ông không hay biết việc tàu chiến Trung Quốc đã đến sát đảo.
Hoangsa1-5294-1389950880.jpg
Ông Trần Dục với những kỷ niệm về Hoàng Sa. Ảnh: Nguyễn Đông

30 phút đấu pháo trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974

Đúng 10h25 ngày 19/1/1974, đại tá Hà Văn Ngạc ra lệnh tấn công các chiến hạm Hải quân Trung Quốc nhằm tái chiếm Hoàng Sa. Hải pháo hai bên nã đạn trực tiếp không ngừng.


Chuẩn bị cho trận chiến, Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng 1 duyên hải Việt Nam Cộng hòa đã thành lập Hải đoàn đặc nhiệm bảo vệ Hoàng Sa, gồm các chiến hạm và sĩ quan được bổ sung từ Bộ Tư lệnh Hải quân tại Sài Gòn. Chỉ huy trưởng Hải đoàn đặc nhiệm là đại tá Hà Văn Ngạc.
Các thập niên 1950, 1960 và 1970, Hải quân Mỹ thường tân trang chiến hạm cũ từ Chiến tranh thế giới thứ II rồi viện trợ cho đồng minh ở châu Á như Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa, Philippines… Vũ khí, hệ thống điện tử, hệ thống điều khiển của tàu viện trợ đều lỗi thời. Trong khi đó, Liên Xô, Trung Quốc và một số quốc gia Đông Âu đã trang bị cho hải quân theo quan điểm đổi tiện nghi, trang bị điện tử để lấy ưu thế về tốc độ, vũ khí và dùng những chiến thuyền nhỏ tấn công các chiến hạm lớn.

Chủ quyền không thể xác lập bằng vũ lực

Hiến chương Liên hợp quốc cũng như tất cả các văn bản luật quốc tế đều không thừa nhận việc sử dụng vũ lực để chiếm đóng. Hành động của Trung Quốc năm 1974 có nhiều chứng cứ cho thấy là một cuộc xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam.


Suốt quá trình trước, trong và sau trận hải chiến Hoàng Sa, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) liên tục phản đối các hành động của Trung Quốc. Bộ Ngoại giao VNCH đã ra Tuyên cáo lên án Trung Quốc xâm chiếm và khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của VNCH tại quần đảo này.
Trên thực địa, nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền, hải quân VNCH đã phải nổ súng, thực hiện quyền tự vệ chính đáng, dù biết đối phương mạnh hơn.
Một ngày sau trận chiến, Bộ Ngoại giao VNCH tiếp tục có công hàm gửi Tổng thư ký Liên hợp quốc để yêu cầu Tổng thư ký, theo Điều 99 Hiến chương, lưu ý Hội đồng Bảo an về tình hình nghiêm trọng xảy ra bởi hành động xâm chiếm của Trung Quốc. Tiếp đó, VNCH gửi thư cho các quốc gia thành viên của Hiệp định Paris 1973 để cảnh báo về hiểm họa gây ra bởi việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa.
hs-JPG-6935-1389952648.jpg
Đơn vị lính bảo an thực hiện nghi thức chào cờ trên đảo Hoàng Sa. Ảnh tư liệu

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

Vì sao Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa

Chỉ một tuần sau chuyến công du của Ngoại trưởng Henry Kissinger, thấy rõ ý định "bỏ rơi" của Mỹ cũng như các điều kiện bất lợi với Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc đã điều chiến hạm ra cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa.


40 năm trước, ngày 19/1/1974, một biến cố trọng đại trong lịch sử Việt Nam hiện đại đã diễn ra - hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc. Sau trận chiến, quần đảo Hoàng Sa - một bộ phận thiêng liêng và không thể tách rời của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm giữ. 
Thạc sĩ Nguyễn Hùng Cường (Viện Nghiên cứu Khoa học Biển và Hải đảo), đã có bài viết tái hiện những sự kiện chính diễn ra trước, trong và sau trận hải chiến:
Suốt nhiều thế kỷ, Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hòa bình và công khai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền bất cứ quốc gia nào. Từ thế kỷ XVII, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện hiệu quả chủ quyền với hai quần đảo này và luôn bảo vệ các quyền, danh nghĩa của mình trước mưu đồ và hành động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam với hai quần đảo thiêng liêng của mình.
Đầu thế kỷ XX, nhận thấy vị trí chiến lược cũng như tầm quan trọng của biển Đông nói chung và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa nói riêng, một số quốc gia (điển hình là Trung Quốc) đã xâm chiếm bất hợp pháp các vùng lãnh thổ này của Việt Nam.

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014

Liệt sĩ Lê Đình Chinh 35 năm nằm lại biên giới phía Bắc

Sáng 6/1, hài cốt của anh hùng liệt sĩ Lê Đình Chinh đã được đưa về an táng tại quê hương Thanh Hóa, sau 35 năm nằm xuống khi đang chiến đấu chống quân xâm lược từ bên kia biên giới.


ls-chinh-422678-1369376271_500x0.jpg
Liệt sĩ Lê Đình Chinh hy sinh năm 18 tuổi. Ảnh: Tư liệu.
Sáng 6/1, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng Thanh Hóa và UBND TP Thanh Hóa làm lễ an táng hài cốt anh hùng, liệt sĩ Lê Đình Chinh tại nghĩa trang liệt sĩ Hàm Rồng. Trước đó một ngày, hài cốt của liệt sĩ Chinh đã được đưa từ nghĩa trang liệt sĩ huyện Cao Lộc (Lạng Sơn) về Thanh Hóa.
Anh hùng, liệt sĩ Lê Đình Chinh nhập ngũ ngày 16/2/1975, thuộc biên chế Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 12 (còn gọi là Đoàn Thanh Xuyên), Bộ tư lệnh Công an vũ trang nhân dân (nay là Bộ đội Biên phòng). Sau khi ở chiến trường Tây Nam chống quân Pol Pot, đơn vị của anh được điều động lên Lạng Sơn bảo vệ biên giới phía Bắc.
Ngày 25/8/1978, anh đã ngã xuống khi đang chiến đấu bảo vệ đồng đội và người dân khỏi quân xâm lược. Khi ấy, anh vừa tròn 18 tuổi. Sau đó, Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" cho liệt sĩ Lê Đình Chinh.
Anh hùng Lê Đình Chinh được an táng tại khu vực gần biên giới, sau đó được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ huyện Cao Lộc. Sau 35 năm nằm lại ở biên giới phía Bắc, hài cốt của anh được đưa về an táng tại quê hương.

Theo Vnexpress.net