Biên giới Việt Nam

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

TQ bắn cháy tàu cá VN ở Hoàng Sa

Cập nhật: 14:59 GMT - thứ hai, 25 tháng 3, 2013

Hai ngư dân trên cabin bị cháy rụi
Tiền Phong dẫn lời thuyền trưởng nói tàu bị TQ bắn bốc cháy
Bộ Ngoại giao Việt Nam xác nhận một tàu Việt Nam bị Trung Quốc bắn bốc cháy ở đảo Hoàng Sa và Hà Nội đang đòi Bắc Kinh bồi thường.

Báo Tiền Phong hôm Chủ Nhật đã đưa tin tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi bị tàu Trung Quốc đuổi và nổ súng bắn cháy cabin tại đảo Hoàng Sa nhưng sau đó bà đã bị gỡ xuống.

Trang web của Bộ Ngoại giao dẫn lời người phát ngôn Lương Thanh Nghị nói hôm 25/03:
"Ngày 20/3/2013, tàu cá mang số hiệu QNg 96382 TS của ngư dân tỉnh Quảng Ngãi trong lúc đang hoạt động nghề cá bình thường tại ngư trường truyền thống thuộc khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị tàu Trung Quốc truy đuổi và nổ súng bắn cháy cabin.
"Đây là vụ việc hết sức nghiêm trọng, vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, đe dọa tính mạng và gây thiệt hại tài sản của ngư dân Việt Nam.
"Hành động này đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, trái với tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)."
Ngoài những lời tuyên bố mang tính quy ước này, Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng sử dụng những ngôn từ mạnh mẽ hơn.
Ông Nghị được dẫn lời nói: "Việt Nam kiên quyết phản đối, yêu cầu phía Trung Quốc điều tra, xử lý nghiêm hành động sai trái và vô nhân đạo nói trên, bồi thường thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
"Ngày 25/03/2013, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại Sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm phản đối việc làm nói trên của phía Trung Quốc."

'Hùng hổ đuổi theo'


Theo báo Tiền Phong, tàu cá QNg 96382 cuối cùng đã về tới đảo Lý Sơn hôm 22/3,
"Việt Nam kiên quyết phản đối, yêu cầu phía Trung Quốc điều tra, xử lý nghiêm hành động sai trái và vô nhân đạo nói trên, bồi thường thiệt hại cho ngư dân Việt Nam"
hai ngày sau khi bị bắn.
Báo dẫn lời thuyền trưởng Bùi Văn Phải, 25 tuổi, và viết:
"Khoảng 10 giờ ngày 20/3, khi sắp kết thúc phiên đánh bắt tại khu vực đảo Lin Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, tàu ông [Bùi Văn Phải] - gồm chín ngư dân - đụng phải chiếc tàu tuần tra của Trung Quốc mang số 786, sơn màu trắng xám.
"Tàu sắt Trung Quốc liền hùng hổ đuổi theo. Thuyền trưởng Phải kéo ga chạy thật nhanh. Do nằm ở vị trí không có rạn san hô ngầm để lọt vào tránh né như mọi lần, ngư dân đành cho tàu chạy thẳng.
"Bọn lính bên tàu tuần tra liên tục buộc tàu ngư dân dừng lại. Khoảng 30 phút sau, bất ngờ đạn lửa từ tàu tuần tra Trung Quốc (có thể là động tác cảnh cáo) bắt đầu nã sang ca bin tàu ngư dân của ta.
"Hốt hoảng và bất ngờ, các ngư dân đang ngồi trước mũi thuyền liền đưa tay lên đầu la to.
"Nóc cabin bắt đầu bốc cháy ầm ầm. Tấm bạt nhựa trên cabin tan chảy để lộ ra 4 bình gas đang nằm giữa đống lửa rừng rực. Nếu không kịp thời dập tắt đám cháy thì có thể nổ tàu.

"Nóc cabin bắt đầu bốc cháy ầm ầm. Tấm bạt nhựa trên cabin tan chảy để lộ ra 4 bình gas đang nằm giữa đống lửa rừng rực. Nếu không kịp thời dập tắt đám cháy thì có thể nổ tàu."
Thuyền trưởng Bùi Văn Phải
 

 Tiền Phong nói sau đó một ngư dân lớn tuổi đã trèo lên nóc cabin trong khi tám ngư dân còn lại múc nước đưa lên để chữa cháy trong lúc tàu Trung Quốc "vội vã tháo lui".
Trung tá Nguyễn Văn Thanh, Đồn phó đồn Biên phòng Lý Sơn cũng được dẫn lời cho biết ông đã "chỉ đạo cho các đội nghiệp vụ thu thập hồ sơ để báo cáo về trên xử lý".
Thuyền trưởng Phải cũng nói với Tiền Phong chuyện tàu tuần tra Trung Quốc đuổi tàu Việt Nam ở Hoàng Sa là điều thường xuyên xảy ra nhưng phía Trung Quốc có hành động mạnh tay hơn trong thời gian gần đây.
Ông Phải cũng nói trước lần bị bắn này, tàu của ông từng bị hai tàu tuần tra khác của Trung Quốc mang số 262 và 263 rượt đuổi.
Các hành động bị coi là "hung hăng" của Trung Quốc trên Biển Đông đã kéo theo nhiều cuộc biểu tình phản đối ở Việt Nam trong hai năm qua.
Chính quyền Việt Nam một mặt lên tiếng phản đối nhưng mặt khác lại ngăn cấm người dân có những hành động phản đối tương tự trên đường phố.

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

'Chúng ta đã đề phòng Trung Quốc chiếm Gạc Ma'


"Sau chiến tranh biên giới năm 1979, khi xuất quân ra Gạc Ma quân ta đã có đề phòng. Quân chủng Hải quân đã lường đến tình huống có xung đột vũ trang và quán triệt phải chiến đấu để giữ đảo", thượng tá Hoàng Hoan kể lại.
Ký ức về trận chiến Gạc Ma năm 1988'Sẵn sàng để máu mình tô thắm cờ tổ quốc'

* Ảnh: Cuộc sống trên đảo Sinh Tồn, Cô Lin và Len Đảo
Thượng tá Hoàng Hoan từng giữ chức Phó chỉ huy chính trị Trung đoàn 83 (Quân chủng Hải quân) giai đoạn 1988 - 1997 và là người trực tiếp chỉ huy Trung đoàn khi lính Trung Quốc đổ bộ đánh chiếm trái phép đảo Gạc Ma ngày 14/3/1988 trao đổi với VnExpress.net xung quanh trận đụng độ này.
Thượng tá Hoàng Hoan chỉ bản đồ quần đảo Trường Sa và kể lại thời khắc xảy ra trận chiến ngày 14/3/1988. Ảnh: Nguyễn Đông
Thượng tá Hoàng Hoan mô tả lại thời khắc xảy ra trận đụng độ 14/3/1988 trên tấm bản đồ. Ảnh: Nguyễn Đông.
- Bối cảnh tình hình tại quần đảo Trường Sa như thế nào vào giai đoạn xảy ra trận đụng độ Gạc Ma năm 1988 thưa ông?
- Năm 1976, Quân chủng Hải quân chỉ đạo chiến sĩ đi kiểm tra các đảo chìm, cắm mốc chủ quyền. Tháng 10/1987 tình hình trên quần đảo Trường Sa rất phức tạp, Trung Quốc đơn phương đưa tàu chiến hoạt động ở vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Cuối năm 1987, Bộ Quốc phòng chỉ đạo Bộ Tư lệnh Hải quân tăng cường khả năng bảo vệ quần đảo Trường Sa, trong đó gồm cả việc củng cố, xây dựng thêm các hạng mục công trình chiến đấu, sinh hoạt cho bộ đội. Nhiệm vụ cấp bách nên sau Tết Mậu Thìn, các chiến sĩ vào cảng Cam Ranh (Khánh Hòa) sẵn sàng nhận nhiệm vụ.
20h ngày 11/3/1988, tàu HQ 604 (Lữ đoàn 125) của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ nhận lệnh xuất phát từ Cam Ranh chở theo 70 bộ đội công binh của Trung đoàn 83 và 22 bộ đội của Lữ đoàn 146 ra xây dựng cụm đảo Gạc Ma. Khi bộ đội đang chuyển vật liệu lên đảo thì ba tàu chiến Trung Quốc áp sát, giật cờ, nã súng xâm chiếm đảo Gạc Ma trái phép. Sau đó, tàu Trung Quốc tiếp tục tấn công tàu HQ 605 đang bảo vệ và xây dựng đảo Len Đao và tàu HQ 505 canh giữ Cô Lin.
Trước khi xảy ra xung đột vũ trang tại Gạc Ma, giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có tranh chấp ở đảo Châu Viên (thuộc quần đảo Trường Sa). Hai tàu của Hải quân Việt Nam chuẩn bị vào đảo thì phía Trung Quốc đã kéo nhiều tàu đến, buộc quân ta phải rút về Đá Đông.
- Trong tình hình đó Việt Nam đã có những chuẩn bị gì trước thời điểm Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma?
- Do có kinh nghiệm từ chiến tranh biên giới năm 1979 nên khi xuất quân ra Gạc Ma quân ta đã có đề phòng. Quân chủng Hải quân đã lường đến tình huống có xung đột vũ trang. Lãnh đạo Quân chủng quán triệt nhiệm vụ với chiến sĩ tham gia nhiệm vụ là nếu có biến cố thì bằng mọi giá phải chiến đấu để giữ đảo.
Lúc này, lực lượng công binh ra Trường Sa có nhiệm vụ xây dựng nhà chòi cho bộ đội ở, tạo thành thế trận vững chắc trên biển. Tâm thế của hải quân Việt Nam lúc đó là làm nhiệm vụ xây dựng trên đảo thuộc chủ quyền của mình. Tàu HQ 604 và HQ 605 là những tàu vận tải, vũ khí trang bị chỉ có AK và súng trường. Chủ trương của trung ương khi đó là không để chiến sự xảy ra ở Trường Sa.
Chiến sĩ ở đảo chìm Len Đao làm nhiệm vụ canh giữ chủ quyền. Ảnh: Nguyễn Đông
Chiến sĩ ở đảo chìm Len Đao làm nhiệm vụ canh giữ chủ quyền. Ảnh: Nguyễn Đông
- Khi xảy ra chiến sự ở Gạc Ma, Bộ Quốc phòng và Quân chủng Hải quân đã có những động thái như thế nào thưa ông?
- Sở chỉ huy Quân chủng lúc đó ở Vùng 4 Hải quân (Cam Ranh, Khánh Hòa), trực tiếp chỉ huy các lực lượng. Còn Trung đoàn 83 đóng quân cách Sở chỉ huy gần 1 km. Khoảng 8 - 9h sáng 14/3, đất liền nghe đài phát thanh (lấy lại tin của Bộ Quốc phòng) thông báo xảy ra chiến sự ở Gạc Ma.
Bộ Quốc phòng chỉ đạo bằng mọi giá phải kiên quyết giữ được chủ quyền tại 3 cụm đảo này. Thượng tướng Giáp Văn Cương (chỉ huy trực tiếp Vùng 4 Hải quân và là Đô đốc đầu tiên của Hải quân Việt Nam) điều các tàu đang làm nhiệm vụ tại Trường Sa có trách nhiệm cấp cứu thương binh đưa về đảo Sinh Tồn. Ông điện cho Bộ Quốc phòng yêu cầu điều thêm tàu cứu hộ cấp cứu chiến sĩ.
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm tới Bộ Ngoại giao Trung Quốc phản đối việc nước này xâm phạm chủ quyền ở quần đảo Trường Sa, đặc biệt là gây xung đột vũ trang tại đảo Gạc Ma.
- Khi đó các lực lượng trên quần đảo Trường Sa đã hiệp đồng ra sao thưa ông?
- Trận xung đột đã gây cho quân ta thiệt hại rất lớn, hai tàu chìm, một tàu hư hỏng, 64 chiến sĩ hy sinh, 9 người bị phía Trung Quốc bắt làm tù binh. Lúc đó, phía ta cũng có nhiều ý kiến khác nhau về quyết định đánh hay không đánh.
Bản thân chỉ huy trưởng Giáp Văn Cương muốn đánh, nhưng cuối cùng chúng ta đã quyết định đấu tranh bằng pháp lý để bảo vệ chủ quyền.
Chiến sĩ hải quân của Trung đoàn công binh 83 làm nhiệm vụ xây dựng các đảo ở Trường Sa sau sự kiện Gạc Ma. Ảnh: Tư liệu Trung đoàn 83
Chiến sĩ hải quân của Trung đoàn công binh 83 làm nhiệm vụ xây dựng các đảo ở Trường Sa sau sự kiện Gạc Ma. Ảnh: Tư liệu Trung đoàn 83
- Sau khi Trung Quốc chiếm giữ Gạc Ma, Hải quân đã có những hành động gì để giữ chủ quyền tại các đảo khác?
- Dù gây tổn thất lớn cho binh đoàn nhưng tình hình lúc này phải bình tĩnh để xây dựng quyết tâm cho các chiến sĩ. Đêm 16/4/1988, Trung đoàn công binh 83 lại đưa bộ đội ra xây dựng đảo và riêng năm đó Trung đoàn lập kỷ lục với 20 khung đi đảo, có chiến sĩ đi đảo tới 5 lần.
Ở hai đảo chìm Cô Lin và Len Đao được xây dựng hai nhà sắt (sà lan), mỗi nhà 25 tấn thép chuyển vượt gần 500 km từ đất liền ra vô cùng vất vả và chỉ kịp sơn chống gỉ. Việc xây dựng này theo chỉ đạo của Quân chủng Hải quân để xem động thái của Trung Quốc. Các lực lượng bảo vệ đảo được tăng cường giữ chủ quyền.
Chính phủ cũng tổ chức phát động phong trào Hướng về Trường Sa với khẩu hiệu "Vì Trường Sa thân yêu" về cả tinh thần lẫn vật chất. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng quyết định giao nhiệm vụ cho 6 tỉnh Hải Phòng, Quảng Nam - Đà Nẵng, Nghĩa Bình (Bình Định và Quảng Ngãi), Vũng Tàu - Côn Đảo, TP HCM, Phú Khánh (Khánh Hòa và Phú Yên), mỗi địa phương phải có trách nhiệm làm một nhà cấp một lâu bền cho một đảo bằng kinh phí và cả lực lượng tàu vận tải. Tỉnh Nghĩa Bình huy động đến 5 tàu chở vật liệu và 100 công nhân ra đảo Đá Lớn.
Năm 1988, Trung Quốc đưa quân ra chiếm đóng bãi đá Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa. Do các bãi đá này không có quân đồn trú nên Hải quân Việt Nam phải đưa tàu ra bảo vệ và cuộc chiến nổ ra ngày 14/3/1988. Phía Việt Nam chìm 2 tàu vận tải, 64 chiến sĩ hy sinh, 9 người bị bắt làm tù binh. Từ đó, Trung Quốc chiếm giữ đảo Gạc Ma, còn Việt Nam vẫn giữ được đảo Cô Lin và Len Đao.
Nguyễn Đông thực hiện

Trường Sa - khúc bi tráng 14-3: Kỳ 8


 Đường về quê mẹ

MY LĂNG | 15/03/2013 10:01 (GMT + 7)
TT - Ngày 20-11-2009, 8g sáng tại Viện Pháp y quân đội (Hà Nội) là ngày không thể quên với thân nhân gia đình 8 liệt sĩ tàu HQ-604: sau 21 năm vô vọng họ đã được đón con, đón em, đón cha, đón chồng mình trở về.
Ông Đoàn Tuấn Nghĩa, bố của liệt sĩ Đoàn Đắc Hoạch, bên bàn thờ con trai - Ảnh: MY LĂNG
Kết luận giám định của Viện Pháp y quân đội về di cốt liệt sĩ Nguyễn Thanh Hải. Anh về quê chỉ với một mảng xương đỉnh - Ảnh: MY LĂNG
Mảng xương sọ của liệt sĩ Đoàn Đắc Hoạch với dấu vết của viên đạn xuyên qua - Ảnh tư liệu của Viện Pháp y quân đội.Dẫu hình hài các anh không còn nguyên vẹn.
Ngày về sau 21 năm
Nhìn tám tiểu sành phủ cờ Tổ quốc đỏ tươi rực rỡ sao vàng nằm sát bên nhau trong hương khói quấn quyện vào nhau, không ai kìm được nước mắt, kể cả những người lính hải quân dày dạn sóng gió. Trước mỗi tiểu sành là biểu tượng Tổ quốc ghi công bằng pha lê, bên trong có chứa giọt gen của từng liệt sĩ.
Sau khi công bố kết quả giám định và bàn giao cho thân nhân gia đình từng liệt sĩ, một đoàn gồm tám chiếc xe bắt đầu lăn bánh rời khỏi hội trường Viện Pháp y quân đội thẳng tiến về bốn tỉnh: Hải Phòng (liệt sĩ Đoàn Đắc Hoạch ở quận Lê Chân, liệt sĩ Nguyễn Thanh Hải ở huyện Thủy Nguyên), Thái Bình (liệt sĩ Trần Văn Phòng ở huyện Kiến Xương, liệt sĩ Nguyễn Minh Tâm ở huyện Hưng Hà), Nghệ An (liệt sĩ Đậu Xuân Tư và liệt sĩ Hồ Văn Nuôi đều ở huyện Nghi Lộc) và Quảng Bình (liệt sĩ Trần Văn Quyết ở huyện Quảng Trạch, liệt sĩ Trần Quốc Trị ở huyện Bố Trạch). Trước mỗi xe đều được Bộ tư lệnh hải quân gắn vòng hoa rất trang trọng.
Trước đó, xe của Bộ tư lệnh hải quân đã về tận nhà đón thân nhân của liệt sĩ ở Hải Phòng, Thái Bình, Nghệ An, Quảng Bình đưa về nhà khách Hải Thành (TP Hải Phòng), nghỉ lại một đêm rồi 4g sáng hôm sau lên Hà Nội. “Sáng ra hỏi mới biết đêm qua cả đoàn không ai ngủ được. Ai cũng mong trời sáng để đi lên Hà Nội” - đại tá Hoàng Ngọc Dương (trưởng phòng dân vận - Bộ tư lệnh hải quân) kể.
Trong tám chiếc xe rời Viện Pháp y quân đội sáng 20-11-2009 ấy, đại tá Dương là người đi trên chuyến xe đưa liệt sĩ Đoàn Đắc Hoạch về phường Nghĩa Xá (Q.Lê Chân). Người em trai út, người anh rể của liệt sĩ và chủ tịch phường Nghĩa Xá cũng có mặt trên chuyến xe ấy để đón liệt sĩ về nhà. Liệt sĩ Đoàn Đắc Hoạch nhập ngũ tháng 2-1982, là thủy thủ trưởng của tàu HQ-604, hi sinh năm 29 tuổi và chưa kịp được biết thế nào là tình yêu.
Chỉ một ngày sau khi xảy ra sự kiện 14-3-1988, gia đình nhận được thư anh gửi về. Trong thư anh viết ngắn gọn: “Tết này con không về ăn tết được, bố mẹ tha thứ cho con. Sau tết con sẽ về...”. Tính đến thời điểm đó đã sáu năm anh không được đón tết ở nhà cùng gia đình.
Bố anh - ông Đoàn Tuấn Nghĩa, năm nay đã 76 tuổi - cho biết: “20 năm sau khi em nó hi sinh, ngày 27 tháng giêng âm lịch và ngày 14-3 dương lịch chúng tôi đều làm giỗ. Từ lâu gia đình đã xác định sẽ không bao giờ tìm thấy em nó trở về. Hi sinh trong đất liền biết bao người vẫn chưa tìm được con huống hồ ngoài biển. Từ ngày người của Bộ tư lệnh hải quân về lấy mẫu giám định thì đến hơn một năm sau mới có kết quả. Cho nên khi được Bộ tư lệnh hải quân báo tin về kết quả giám định ADN, tôi chảy nước mắt, tập trung các con cháu lại, thông báo rõ. Đó là điều mà gia đình trông đợi bấy lâu nay nhưng không dám hi vọng”.
Hơn 1g chiều, chuyến xe đặc biệt ấy đã đưa liệt sĩ Đoàn Đắc Hoạch về đến ngôi nhà nhỏ ở ngõ 170 Vũ Chí Thắng. Người em gái thứ tư khóc ngất khi chạm vào khối hình chữ nhật bằng gỗ phủ cờ Tổ quốc, bên trong là tiểu sành chứa xương cốt anh trai mình. Mẹ anh, người đã khóc 21 năm nay, lại thêm lần nữa nhòe lệ... Hình hài anh về với quê hương chỉ là một mảnh xương sọ có vết đạn bắn xuyên thủng và một đoạn xương chày phải... để trong tiểu sành phủ cờ Tổ quốc.
Gia đình liệt sĩ đề nghị được đón con về thẳng nhà và làm lễ truy điệu ngay tại nhà. Chiều hôm sau đưa liệt sĩ về nơi anh đã được sinh ra ở Kim Sơn (Tân Trào, Kiến Thụy, Hải Phòng). Ngay từ khi được Bộ tư lệnh hải quân báo tin về kết quả giám định, gia đình đã xây mộ trước trong nghĩa trang liệt sĩ xã Tân Trào.
Buổi sáng 21-11-2009, ở nghĩa trang liệt sĩ nằm ngay quốc lộ rất rộng, bà con khắp xã kéo đến tiễn đưa người con đã hi sinh vì Trường Sa nay trở về quê hương sau 21 năm.
Nhắc về người con trai cả Đoàn Đắc Hoạch, ông Nghĩa tâm sự: “Em nó hiền, quý các em lắm. Trước khi đi em nó cứ dặn mẹ: khi bố về mẹ nói bố cố gắng xin việc gần nhà và cho các em được học ngành nghề đàng hoàng. 29 tuổi vẫn chưa dám yêu cô nào. Giục thì em nó bảo: khi nào về con mới yêu, mới cưới vợ”. Rồi ông chùng giọng, nhìn về phía di ảnh người con trai có gương mặt sáng, nụ cười tươi như hoa, bảo: “Nhiều liệt sĩ vẫn chưa về được quê hương mà bố mẹ thì đã gần chết hết rồi. Nghĩ đến những gia đình khác con cái chưa về được, thấy buồn và thương lắm. Niềm vui của tôi cũng vì thế mà không trọn vẹn”.

Con đã chiến đấu chứ không bỏ chạy
Trong khi đó, cũng đi về hướng Hải Phòng là một chuyến xe khác chở hài cốt liệt sĩ Nguyễn Thanh Hải về quê hương ở xã Chính Mỹ (huyện Thủy Nguyên). Liệt sĩ Nguyễn Thanh Hải sinh năm 1968, trẻ nhất trong số tám liệt sĩ được tìm thấy từ tàu HQ-604. Anh nhập ngũ tháng 2-1985, là hạ sĩ trên tàu HQ-604. Người chiến sĩ ấy mãi mãi nằm lại giữa biển khơi khi mới 20 tuổi.
Ngày đón anh về có một phụ nữ ở rất xa nghe tin đến rất lặng lẽ. Chị đặt bó hoa trước linh cữu người liệt sĩ mà nước mắt lưng tròng. Đó là vợ sắp cưới của chàng bộ đội Nguyễn Thanh Hải 21 năm trước. Ngày ấy trước khi đi anh đã hỏi vợ, định về là cưới. Đó là người bạn học từ thuở còn nhỏ xíu, là mối tình năm năm của anh. Mấy năm sau ngày anh hi sinh, chị vẫn qua lại nhà anh thăm hỏi bố mẹ, các em. Chị cứ nhùng nhằng không chịu nhận lời ai dù bố mẹ anh giục mãi. Phải đến năm năm sau, gia đình anh khuyên nhủ cạn lời người con gái ấy mới chịu lấy chồng.
Nhắc về anh mình, ông Nguyễn Thanh Huân vẫn không thể nào quên những giờ phút cuối cùng hai anh em ở bên nhau. Đó là lần anh Hải về phép tháng 8-1987. Anh được về phép hơn 20 ngày, chưa hết phép đã có lệnh vào công tác gấp.
“Tôi chở anh ra bến tàu. Hôm đó mưa dông rất to. Tôi đưa mũ cho anh đội nhưng anh không chịu đội, nhường cho em. Khi đến nơi thì thấy lụt cả bến tàu. Chuyến tàu đó phải dừng lại vì không ai xuống được tàu. Anh dặn lúc chia tay: chú ở nhà học hành cẩn thận, sau này anh về sẽ xin cho chú vào cùng đơn vị với anh” - ông Huân xúc động kể.
Đôi mắt người đàn ông ấy đỏ hoe, bảo: “Khi lên đến Viện Pháp y quân đội, chân tay tôi như khuỵu xuống vì run. Đêm trước đó tôi thấp thỏm không ngủ được. Anh em hàng bao năm mới gặp... Ngồi trên xe, tôi chỉ muốn mau mau về đến nhà để mẹ được đón anh cả. Cũng may là bố mẹ tôi vẫn còn khi anh về”.
Hình hài anh cả của ông Huân trở về với bố mẹ, với gia đình sau 21 năm chỉ vẻn vẹn là một mảnh xương đỉnh. Những phần xương cốt khác của anh cũng như nhiều liệt sĩ khác vẫn còn nằm lại đâu đó giữa sóng biển Trường Sa...
Nói về sự ra đi của con trai cả, ông Nguyễn Xuân Cứ (74 tuổi) bồi hồi: “Đó là nhiệm vụ, là nghĩa vụ của một người lính. Tôi cho con vào hải quân để rèn luyện, để có bản lĩnh. Con trai tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy vì Tổ quốc. Gia đình tôi tự hào vì con mình đã chiến đấu, đã hi sinh chứ không bỏ chạy”.
Ông Cứ từng là trưởng ban tài vụ Lữ đoàn 125 hải quân, cũng là nơi con trai ông công tác trước lúc hi sinh. Người chiến binh hải quân nói với giọng bình thản lạ thường, nhưng trong đôi mắt loang loáng hình của nước...
------------------------------------------
Kỳ tới: Hai chiếc đài để lại

Thứ Tư, 13 tháng 3, 2013

Trường Sa - khúc bi tráng 14-3 - Kỳ 7:


Tìm lại tên cho anh

MY LĂNG | 14/03/2013 09:06 (GMT + 7)
TT - Sau khi chiếc xe của Viện Pháp y quân đội (Bộ Quốc phòng) chở bốn quan tài đựng hài cốt liệt sĩ về Hà Nội thì tại Hải Phòng, Bộ tư lệnh Hải quân đã thành lập một nhóm công tác đặc biệt.
Hài cốt các liệt sĩ hi sinh trong trận Gạc Ma ngày 14-3-1988. Cán bộ Viện Pháp y quân đội đang tiếp nhận để giám định - Ảnh tư liệu của Viện Pháp y quân đội
Ngày 27-8-2008, hài cốt các liệt sĩ hi sinh ở Gạc Ma được Bộ tư lệnh Hải quân bàn giao cho Viện Pháp y quân đội để đưa ra Hà Nội giám định - Ảnh tư liệu của Viện Pháp y quân đội
Nhóm này gồm bốn tổ, đi đến 56 gia đình thân nhân liệt sĩ khắp cả nước để lấy mẫu sinh phẩm giám định ADN.
Những tổ công tác đặc biệt
Thượng tá Phạm Văn Minh (trợ lý phòng chính sách - Quân chủng Hải quân VN) là trưởng nhóm tổ 1, đến 20 gia đình liệt sĩ ở sáu tỉnh. “Nhiều bố mẹ liệt sĩ đã mất. Có người vợ cũng không còn. Trong 20 liệt sĩ chỉ có bốn người đã lấy vợ. Tổ của tôi chỉ có hai ngày để lấy toàn bộ mẫu máu. Sáng 4g vào tận Thanh Hóa, rồi ngược ra Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng về Viện Pháp y quân đội ở Hà Nội bàn giao. Sau đó chạy lên Phú Thọ, rồi trở về Hà Nội bàn giao tiếp những mẫu sinh phẩm vừa lấy được. Có ngày 11g đêm chúng tôi mới lấy mẫu xong. Có những nơi không biết đường đi, vừa đi vừa dừng lại hỏi đường” - thượng tá Minh cho biết. Như trường hợp nhà liệt sĩ Trần Văn Chức ở xã Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình. Canh Tân là xã mới thành lập, nằm gần bờ đê, giáp tỉnh Hưng Yên nên rất ít người dân biết. Nhóm công tác tìm suốt buổi sáng mới đến nơi. Bố mẹ liệt sĩ đã chết, các anh phải vào ủy ban xã hỏi mới tìm được người chị gái hơn 60 tuổi, không chồng. Người chị rơi nước mắt nghẹn ngào nói với tổ công tác: “Bố mẹ trước khi mất đều dặn con hãy cố sống đợi đến ngày em về...”. Nghe những lời nói ấy, lồng ngực những người trong tổ công tác như bị bóp nghẹt lại.
Đại tá Hoàng Ngọc Dương (trưởng phòng dân vận - Quân chủng Hải quân VN) là người đã chỉ huy tổ công tác thứ 2 đi đến ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình lấy mẫu sinh phẩm của thân nhân 22 gia đình liệt sĩ. Đây là nhóm đi xa nhất, gặp nhiều gia đình liệt sĩ nhất và cũng là nhóm vất vả nhất: phải trèo đèo, lội suối, băng rừng trong suốt hành trình bảy ngày đêm đi liên tục không ngơi nghỉ. Đoàn công tác phải đi bằng xe U-oát, loại xe có thể “chinh chiến” đường đèo dốc, đồi núi, kiểu đường xấu và xóc. Nhưng có nhiều đoạn đường, cả tổ công tác phải đi đò rồi cuốc bộ 3-4km. Những mẫu sinh phẩm đã lấy xong được tiếp đá liên tục trong suốt hành trình để đảm bảo chất lượng. Tổ của đại tá Dương chỉ có bảy ngày để hoàn tất việc lấy mẫu. Giai đoạn tưởng như đơn giản ấy cũng không hề dễ dàng.
“Kịch tính” nhất là khi tìm đến gia đình một liệt sĩ ở Hương Khê (Hà Tĩnh). Khi đó trời đã sập tối nhưng đoàn vẫn cố đi thêm một trường hợp cho kịp tiến độ. Lần ấy nhóm công tác phải đi đò. Trời mưa lớn. Nước chảy xiết. Con đò mỏng manh cứ bị nước cuốn dạt đi, mãi mới cập được bờ bên kia. Anh em đoàn công tác mỗi người bẻ một tàu cọ đội mưa đi tìm nhà liệt sĩ. Khi đến nơi, mọi người chùng xuống khi biết gia đình và cả mẹ của liệt sĩ đã chuyển hết vào Nam. Cuối cùng tổ công tác cũng tìm được con gái của chị ruột mẹ liệt sĩ. Vừa xuống núi, qua được sông thì lũ tràn về. Lúc đó đã gần 10g đêm. “Chậm một chút thôi là bị lũ chặn lại, toàn bộ số mẫu lấy trước đó sẽ phải vứt đi hết” - anh Dương cho hay.
Bảy ngày rong ruổi khắp ba tỉnh với gần 30 điểm đến (do phát sinh) là hành trình không nghỉ ngơi, ăn xong là lên xe đi ngay. Trong hành trình ấy, biết bao hình ảnh những ông bố, bà mẹ của liệt sĩ không nguôi ám ảnh tâm trí nhóm công tác. Đó là hình ảnh người mẹ già 68 tuổi của liệt sĩ Trương Minh Thương (Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình) cô đơn trong căn nhà ngập nước. “Chúng tôi phải đi đò từ Quảng Thủy sang Quảng Sơn (Quảng Trạch, Quảng Bình). Tháng 7 mùa mưa, chúng tôi phải tháo giày để trên đường tàu rồi lội bộ vào. Quanh nhà nước lênh láng. Sau này chúng tôi đã giao cho Trung đoàn công binh E83 làm nhà tình nghĩa cho mẹ” - anh Dương cho biết.
Đúng bảy ngày sau, tổ công tác đã có mặt tại Hà Nội, chuyển toàn bộ mẫu sinh phẩm cho Viện Pháp y quân đội.
30 ngày trắng đêm
Trong khi đó, một nhóm cán bộ của Viện Pháp y quân đội cũng đang gấp rút bắt tay vào việc giám định pháp y tìm lại tên cho các liệt sĩ từ số xương cốt đang nằm lẫn lộn vào nhau. Họ đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Toàn bộ hài cốt này là của mấy liệt sĩ? Xương nào là của ai?... “Dựa trên phương pháp quan sát dấu hiệu hình thái học, đặc điểm về giải phẫu, độ tương thích về kích thước, màu sắc, chúng tôi nhận dạng sơ bộ và sắp xếp lại các xương, ước chừng của 7-8 người” - đại tá Nguyễn Văn Hòa (viện trưởng Viện Pháp y quân đội) nhớ lại.
Sau khi giám định hình thái xong, các cán bộ pháp y lấy 13 mẫu xương và răng để phân tích ADN ty thể. Câu hỏi được đặt ra là: 13 mẫu xương và răng này là của ai trong số 56 liệt sĩ (trong trận Gạc Ma ngày 14-3-1988, có 64 cán bộ chiến sĩ hi sinh, nhưng ngay sau đó một số đã được đồng đội đưa thi thể về hoặc trút hơi thở cuối cùng trên đảo Sinh Tồn, nên còn 56 anh em chưa tìm thấy hài cốt)?
“Khó khăn trong phân tích mẫu do đây là lần đầu tiên ở Việt Nam làm nhận dạng hài cốt có số lượng mẫu so sánh lớn như thế (13 mẫu hài cốt và 56 mẫu sinh phẩm), các hài cốt lại bị lẫn lộn. Như vậy, cứ một mẫu hài cốt phải lần lượt so sánh, đối chiếu với ít nhất 56 mẫu sinh phẩm” - đại tá Hòa cho biết.
“Do hài cốt các liệt sĩ đã ngâm nước biển 20 năm nên cái khó khi giám định ADN là làm sao khử các chất ức chế (chất vô cơ, hữu cơ, vi khuẩn, nấm thực vật) có trong xương để không làm ảnh hưởng đến các công đoạn kỹ thuật phía sau. Riêng việc loại bỏ độ mặn trong 13 mẫu xương đã mất gần một tuần” - thượng úy Vũ Anh Tuấn (thạc sĩ sinh học phân tử - phòng xét nghiệm), người chịu trách nhiệm chính về nhận dạng ADN hài cốt liệt sĩ của tàu HQ-604, chia sẻ.
Sau khi loại bỏ các chất ức chế và tạp chất bên ngoài, tiến hành tách chiết ADN từ 13 mẫu xương, sau đó so sánh các mẫu xương này với nhau mới tìm được đáp án: 13 mẫu xương đó là của tám người. Mất 74 ngày mới tìm ra câu trả lời. Đó là ngày 5-1-2009. “Giai đoạn đối chiếu, so sánh kết quả rất quan trọng và phức tạp, chỉ riêng đọc mẫu số kết quả mất sáu ngày. Đây là thời điểm căng thẳng, áp lực nhất - thượng úy Vũ Anh Tuấn cho biết - Tôi biết các gia đình liệt sĩ đang rất sốt ruột, nôn nóng. Họ mong chờ như chờ một đứa con còn sống sắp trở về nhà, nên nhóm chúng tôi phải chia ca thay nhau làm ngày đêm”. Thượng úy Tuấn là trưởng nhóm nên suốt một tháng trời anh ăn ngủ ngay tại viện.
Song song trong quá trình tách chiết ADN của 13 mẫu xương trên, một nhóm khác của phòng xét nghiệm cũng ráo riết tách chiết ADN, so sánh các mẫu ADN lấy từ 56 gia đình thân nhân liệt sĩ. Chỉ mất một ngày sau khi so sánh đối chiếu tám mẫu ADN vừa được xác định với mẫu ADN lấy từ 56 gia đình, danh tính tám liệt sĩ đã được xác định rõ ràng. Điều đặc biệt là tám liệt sĩ này chia đều cho bốn tỉnh thành: Hải Phòng, Thái Bình, Nghệ An và Quảng Bình. Mảnh xương sọ còn rất rõ vết đạn bắn xuyên qua chính là của liệt sĩ Đoàn Đắc Hoạch (Hải Phòng). Hình hài của anh về với quê hương chỉ là một mảnh xương sọ và một đoạn xương chày phải. Nhiều mảnh xương khác của những đồng đội anh bị vỡ, bị gãy trước khi chết do tác động của vũ khí lính Trung Quốc.
Ngày 20-11-2009, Bộ tư lệnh Hải quân đã phối hợp với Viện Pháp y quân đội tổ chức công bố kết quả giám định ADN và bàn giao cho thân nhân gia đình liệt sĩ. Biểu tượng Tổ quốc ghi công làm bằng khối pha lê có chứa giọt gen ADN của mỗi liệt sĩ là ý tưởng và đề xuất của Viện Pháp y quân đội với Bộ tư lệnh Hải quân. Đó là cái tình của lãnh đạo ở Viện Pháp y quân đội với những người đã ngã xuống vì Trường Sa..

Trường Sa - khúc bi tráng 14-3: Kỳ 6:

 Ngày trở về...
MY LĂNG - LÊ ĐỨC DỤC | 13/03/2013 10:05 (GMT + 7)
TT - Sau khi sự cố xảy ra với Phạm Vinh, tàu Thành Công 07 của ông Võ Văn 
Kỷ vật của cán bộ, chiến sĩ hi sinh tại vùng biển Gạc Ma ngày 14-3-1988 - Ảnh: My Lăng
Trường Sa 21 là con tàu đưa hài cốt các liệt sĩ hi sinh tại vùng biển Gạc Ma trở về đất liền. Đây cũng là con tàu chở chuyến đá đầu tiên trong chương trình “Góp đá xây Trường Sa” ra đảo Đá Tây- Ảnh: thuận thắng

Cùng lúc đó, di vật và di cốt của những người lính hải quân trong con tàu HQ-604 cũng được anh em cán bộ chiến sĩ trên đảo Cô Lin chăm lo nhang khói, chuẩn bị cho chuyến trở về của các liệt sĩ.
Xác thân còn lại chút này...
Đại úy Chu Văn Phượng, đảo trưởng đảo Cô Lin vào năm 2008 (thời điểm tìm thấy các liệt sĩ trên tàu HQ-604), hồi ức về cuộc quy tập thiêng liêng ấy:
“Chiều thứ hai của cuộc tìm kiếm, khi ông Võ Văn Chức từ tàu Thành Công 07 báo đã đưa được hai bao hài cốt lên, tôi quá nôn nóng đi xuồng ra đón ngay. Nhìn thấy những mảnh xương lẫn vào nhau không còn nguyên vẹn, anh em trên đảo không ai kìm được nước mắt. Trong ba mảnh xương hộp sọ được mang lên, chỉ một hộp sọ còn được 1/3 do bị đạn pháo bắn. Chúng tôi lấy sả khô nấu nước thơm để “tắm” cho hài cốt các anh. “Tắm” xong, anh em cán bộ chiến sĩ trên đảo ngồi tỉ mỉ lau sạch từng mảnh xương bằng bông gạc quân y. Tất cả đều im lặng làm trong niềm xúc động thiêng liêng khi cầm trên tay chút hình hài của đồng đội mình” - anh Phượng xúc động kể.
Toàn bộ hài cốt liệt sĩ được đặt vào hai chiếc hòm sắt quân đội, bên trên phủ lá cờ Tổ quốc. Chiến sĩ trên đảo gấp rút chuẩn bị lư hương, đặt bàn thờ. 6g tối hôm đó, ngay trong sóng gió, toàn đảo mặc quân phục tổ chức lễ truy điệu các liệt sĩ ngay dưới cột mốc chủ quyền.
“Trong đời tôi chưa bao giờ dự một lễ truy điệu thiêng liêng, trang trọng và xúc động như thế - anh Phượng chia sẻ - Sau lễ truy điệu, bàn thờ lư hương và hòm đựng hài cốt liệt sĩ được đưa lên phòng họp của đảo, chăm lo nhang khói suốt ngày đêm và luôn có một chiến sĩ đứng gác. Đều đặn mỗi bữa ăn, đảo có món gì đều cúng món đấy cho các liệt sĩ...”.
Cuối tháng 8-2008, khi mùa biển bắt đầu động, hành trình đưa hài cốt các anh về lại đất liền cũng là một hành trình gian nan. (Cũng thật bất ngờ, khi lần theo dấu vết của cuộc tìm kiếm các liệt sĩ trên tàu HQ-604, chúng tôi biết được con tàu làm nhiệm vụ thiêng liêng đưa hài cốt các anh từ đảo Cô Lin về đất liền lại là tàu Trường Sa 21 của Lữ đoàn 125 (Đoàn tàu không số). Bởi tháng 9-2011, chiếc tàu Trường Sa 21 cũng chính là chuyến tàu đầu tiên chở những viên đá đầu tiên trong chương trình “Góp đá xây Trường Sa” của bạn đọc Tuổi Trẻ ra đảo Đá Tây để xây dựng công trình mới).
Hành trình về với đất liền
Đang làm nhiệm vụ trực ở đảo Song Tử Tây, tàu Trường Sa 21 nhận lệnh xuất phát ngay sang Cô Lin nhận di vật và hài cốt liệt sĩ đưa về bờ. Đại úy Nguyễn Thế Tình (trợ lý chính trị phòng tham mưu Lữ đoàn 125 Hải quân), khi đó là trung úy - chính trị viên tàu Trường Sa 21, kể: “Dù sóng to gió lớn nhưng chúng tôi vẫn quyết định vào đảo, mang theo thịt heo, gạo nếp, đậu xanh, bí lên đảo làm mâm cơm thắp hương cho các anh”.
Đại úy Trần Văn Dũng, chính trị viên đảo Cô Lin, thắp hương xin phép được mở hòm để bàn giao cho tàu Trường Sa 21 đưa các bác, các chú về đất liền. “Khi mở hòm ra ai cũng khóc. Lần đầu tiên trong đời chúng tôi được chứng kiến hình ảnh xúc động, thiêng liêng như thế. Nhìn các di vật rong rêu bám đầy, gỉ sét rồi nhìn chiếc săm xe đạp, quần áo của các chú... chúng tôi không kìm được nước mắt” - đại úy Tình kể.
Đêm đó cả đảo lại một đêm không ngủ. Và các sĩ quan của tàu Trường Sa 21 cũng thức trắng đêm.
3g ngày 24-8, cả đảo và tàu Trường Sa 21 thắp nhang làm lễ xin được đưa các liệt sĩ xuống tàu. Đại úy Nguyễn Thế Tình phụ trách xuồng đưa bốn hòm gỗ chứa hài cốt và di vật lên tàu. “Ở biển mặt trời mọc rất sớm, 5g30 đã nổi lên giữa biển rồi. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải đưa hài cốt lên tàu trước khi mặt trời mọc. Nhưng sáng đó không hiểu sao biển rất động, sóng to gió lớn. Tàu Trường Sa 21 phải cơ động chắn sóng, chắn gió cho xuồng. Xuồng chở hài cốt các anh cũng phải chạy tránh sóng, tránh gió và tạo một khoảng cách vừa phải thì cập vào mạn tàu. Không thể dùng cẩu, chúng tôi phải buộc dây vào hòm kéo lên để đảm bảo an toàn”.
Đại úy Tình kể tiếp: “Từng hòm lần lượt đưa lên tàu. Dù đã hết sức cẩn trọng, nhưng tất cả anh em đều vô cùng lo lắng. Với những cột sóng mạnh, tàu lắc như thế này, nhỡ một giây sơ sẩy là ân hận suốt đời! Những anh em đứng dưới xuồng luôn trong tư thế sẵn sàng lao ra ôm lấy hòm nếu đứt dây. Xuồng rời đảo từ 4g đến 5g15, mất hơn 60 phút mới đưa được bốn chiếc hòm đựng di cốt và di vật lên tàu. Vừa đưa hài cốt lên tàu thì trời hừng sáng. Sóng yên lại. Biển dịu hẳn.
Anh em đã kịp trang trí phòng câu lạc bộ sĩ quan trên tàu thành bàn thờ. Trước khi đưa hòm kỷ vật và hài cốt liệt sĩ vào phòng câu lạc bộ, tất cả thủy thủ trên tàu Trường Sa 21 đều mặc quân phục chỉnh tề, từng người một thắp nhang cho các chú, các anh”.
7g sáng, tàu nhổ neo xuất phát về đất liền, mặt biển ắng lặng như tờ. Tàu phân công cứ hai chiến sĩ một ca trực đứng hai bên bàn thờ, cầm súng canh, lo nhang khói 24/24 giờ. Những nén nhang thành kính thiêng liêng ấy tỏa khói thơm suốt từ lúc chiếc hòm gỗ đầu tiên được đưa lên tàu cho đến ngày về tới đất liền.
Sau hành trình hai ngày hai đêm trên biển, gần 7g ngày 26-8-2008, tàu Trường Sa về đến Vũng Tàu. Đúng 7g, lễ truy điệu và bàn giao hài cốt và di vật của các liệt sĩ trong chiếc tàu HQ-604 cho Cục Chính trị quân chủng hải quân được tổ chức rất trang trọng tại quân cảng 129.
Người cha của liệt sĩ Gạc Ma đã không chờ được...
Hôm qua, ông Hoàng Sĩ, quê ở TP Đông Hà (Quảng Trị), bố của liệt sĩ Hoàng Ánh Đông - một trong 64 cán bộ chiến sĩ đã hi sinh ngày 14-3-1988 khi bảo vệ đảo chìm Gạc Ma - đã qua đời, đúng vào lần giỗ thứ 25 của con trai mình.
Bốn năm trước, khi tôi về thăm ông trước khi đi Trường Sa, ông có ước nguyện nhờ hỏi giùm xem hài cốt của con trai mình liệu có tìm thấy. Nhất là sau khi Bộ tư lệnh hải quân cho lấy mẫu máu để xét nghiệm ADN từ những hài cốt được ngư dân tàu Thành Công 07 lặn mang lên. Ông Sĩ đã rất buồn khi biết không có di cốt của Đông trong số đó. Chuyến đi ra Trường Sa vào năm sau, tôi đã mang về cho ông một chai nước lấy từ vùng biển Cô Lin - Gạc Ma, nơi Đông hi sinh để đặt lên bàn thờ bái vọng. Tôi đã kể câu chuyện về những hài cốt liệt sĩ đang còn lại trong khoang tàu HQ-604 và nói ông hãy hi vọng...
Nhưng ông Hoàng Sĩ đã không thể chờ được, cũng như hàng chục ông bố bà mẹ của những liệt sĩ Gạc Ma đã không chờ được...
LÊ ĐỨC DỤC

Tàu Trung Quốc quấy rối tàu cá Việt Nam tại Hoàng Sa


Hai tàu đánh cá Việt Nam hôm nay bị một nhóm tàu tuần tra của Trung Quốc ngang nhiên đòi xua khỏi vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.
Kiên quyết phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam

Tàu Hải giám 83, một trong các tàu Trung Quốc đang tuần tra trái phép tại Hoàng Sa. Ảnh:Xinhua
Thông tin trên được hãng thông tấn chính thức của Trung Quốc Tân hoa xãđưa tin hôm nay.
Theo đó, vào khoảng 7h sáng, một nhóm tàu hải giám Trung Quốc giáp mặt hai tàu cá Việt Nam tại vùng biển gần Hoàng Sa. Các tàu cá của Việt Nam mang số hiệu QNg96417TS và QNg96382TS. Sau khoảng ba giờ bị hai tàu Hải giám 262 và Hải giám 263 của Trung Quốc quấy rối, tàu cá Việt Nam rời khỏi vùng biển trên.
Đội tàu hải giám của Trung Quốc gồm hai tàu trên và tàu Hải giám 83, cùng một trực thăng Hải giám B-7103 đang tiến hành cái gọi là "nhiệm vụ tuần tra" 10 đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Theo CCTV, Trung Quốc sẽ duy trì hoạt động này ở Hoàng Sa trong 9 ngày. Đây là lần đầu tiên tàu và trực thăng của Cục Hải giám Trung Quốc tiến hành tuần tra chung ở quần đảo Hoàng Sa kể từ Bắc Kinh thành lập cái gọi là "thành phố Tam Sa" có trụ sở trên đảo Phú Lâm của Việt Nam vào tháng 7/2012, bất chấp sự phản đối của phía Việt Nam.
Trước đó, vào ngày 7/3, trước việc một số tàu hải tuần của Trung Quốc thực hiện tuần tra tại Biển Đông, trong đó có khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
"Mọi hoạt động tại các khu vực này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và chúng tôi kiên quyết phản đối", ông nhấn mạnh.
Tại Biển Đông, Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền chồng lấn với các nước thành viên ASEAN gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei.
Anh Ngọc

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2013

Trường sa - khúc bi tráng 14-3 - Kỳ 5:


Cuộc tìm kiếm dưới đáy biển Gạc Ma
LÊ ĐỨC DỤC | 12/03/2013 09:35 (GMT + 7)
TT - Hơn 20 năm sau ngày xảy ra sự kiện 14-3-1988, chúng tôi có dịp đến với gia đình các liệt sĩ hải quân hi sinh. Hai mươi năm qua, nỗi mất mát có thể đã lắng xuống sau ngần ấy thời gian, nhưng niềm khắc khoải ngóng vọng của những bà mẹ với xương cốt con mình dưới lòng biển lạnh vẫn mãi thao thức.
  • Các ngư dân tàu Thành Công 07 đã lặn vớt hài cốt liệt sĩ trên tàu HQ-604 - Ảnh: L.Đ.Dục
  • Vợ anh Phạm Vinh bên bàn thờ chồng - người thợ lặn đã tử nạn khi lặn tìm hài cốt anh em trên tàu HQ-604. Ảnh chụp tại thôn Đông, xã An Vĩnh, đảo Lý Sơn - Ảnh: L.Đ.Dục

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Trường Sa - khúc bi tráng 14-3 - Kỳ 4:


Lá thư không người nhận
MY LĂNG | 11/03/2013 09:35 (GMT + 7)
TT - Đó là một lá thư đã ố màu, cũ kỹ, nằm lọt thỏm trong rất nhiều hình ảnh, kỷ vật liên quan đến sự kiện ngày 14-3-1988 trong phòng trưng bày của Bảo tàng Hải quân VN (Hải Phòng).
  • Chị Thu Hà thắp nhang trong ngày giỗ bố - Ảnh: M.Lăng
  • Chân dung anh hùng liệt sĩ Trần Đức Thông - Ảnh tư liệu (M.L. chụp lại)

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013

Trường Sa - khúc bi tráng 14-3 - Kỳ 3:



Khi tiếng súng lặng im 

QUỐC VIỆT | 10/03/2013 08:06 (GMT + 7)
TT - Thuyền phó Doan bị bỏng nặng vì pháo, cả người cháy đen, tóc sém hết, bốc mùi khét lẹt. Mặt anh cũng thủng lỗ chỗ, đầm đìa máu bởi mảnh đạn. Vậy mà anh vẫn tỉnh, tỉnh đến kỳ lạ. Được đồng đội dìu dưới biển, anh vẫn thoi thóp nhìn mãi về phía ngọn cờ Tổ quốc, mấp máy môi như nhắn nhủ anh em phải giữ vững bằng mọi giá...
  • Đại tá Vũ Huy Lễ, nguyên thuyền trưởng HQ-505, người đã ra lệnh cho tàu lao lên ủi bãi Cô Lin  - Ảnh: QUỐC VIỆT
  • Không ảnh chụp tàu HQ-505 sau khi lao lên ủi bãi san hô Cô Lin. Tàu bị cháy phía sau và cột khói cao vẫn bốc lên. Nhưng HQ-505 anh hùng đã biến thành công sự không chìm, với lá cờ Việt Nam tung bay trên bãi san hô Cô Lin Ảnh: My Lăng...