Biên giới Việt Nam

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

Chiến tranh biên giới - những dấu mốc không thể lãng quên


Trận chiến 30 ngày

Rạng sáng 17/2/1979, Bắc Kinh bất ngờ ồ ạt xua quân xâm lược biên giới mở màn cho cuộc chiến 30 ngày trên địa bàn 6 tỉnh: Lào Cai, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh và kéo dài suốt 10 năm sau đó.

Tiếng súng vang trên bầu trời biên giới

Ngày 17/2/1979, Trung Quốc đưa 600.000 quân tấn công toàn tuyến biên giới Việt Nam. Số quân Trung Quốc tham chiến lúc này được cho nhiều hơn các đạo quân xâm lược trước đó. (Thời điểm cao nhất, quân Mỹ huy động trên chiến trường Việt Nam gần 550.000 quân, Pháp 250.000 quân...).
Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh đại quân khu Quảng Châu được cử làm tổng tư lệnh cuộc chiến tranh, trực tiếp chỉ huy hướng xâm lược Cao Bằng - Lạng Sơn. Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh đại quân khu Côn Minh chỉ huy hướng Lào Cai.
Chiến thắng mùa xuân 1975 theo đánh giá của nhiều nhà sử học thế giới là kết quả Trung Quốc không mong muốn, khi Bắc Kinh và Washington đạt được một số thỏa thuận sau chuyến thăm của Tổng thống Nixon năm 1972.
Tháng 5/1975, quân Khmer Đỏ thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam tàn sát dân thường. Đứng đằng sau là Trung Quốc tài trợ khí tài, cố vấn quân sự. Khi quân đội Việt Nam tổng phản công trên biên giới Tây Nam thực hiện nghĩa vụ quốc tế đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ, bảo vệ nhân dân Campuchia, Trung Quốc quyết định dừng viện trợ cho Việt Nam.
Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khi ấy tuyên bố: "Phải dạy cho Việt Nam một bài học" và che mắt thế giới rằng "đây là cuộc chiến tranh phản kích tự vệ".
Đạn pháo quân Trung Quốc nã dồn dập vào biên cương

Cuộc chiến tự vệ

Cuộc động binh quy mô lớn của Trung Quốc khiến nhân dân Việt Nam và cả thế giới bất ngờ.
Theo Niên giám châu Á 1980, tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam ở biên giới lúc này khoảng 50.000 quân, gồm bộ đội địa phương, công an vũ trang, dân quân tự vệ. Bước vào cuộc chiến không cân sức, quân dân 6 tỉnh biên giới phía Bắc đã tổ chức các đợt phòng ngự, đẩy lùi từng đợt tiến công của quân Trung Quốc.
Ở Lạng Sơn, sau 10 ngày chiến đấu, Trung Quốc tung thêm quân vào thị xã Lạng Sơn, dùng chiến thuật biển người nhằm xâm chiếm mục tiêu quan trọng. Lực lượng vũ trang địa phương đã đánh bật hàng chục đợt tiến công của giặc. Các trận đánh diễn ra ác liệt ở cầu Khánh Khê, Tam Lung, Đồng Đăng.
Quân Trung Quốc chia các hướng đánh vào nhiều điểm tại Lai Châu, Hà Tuyên, Quảng Ninh. Hai sư đoàn Trung Quốc theo đường 10 vào Nậm Cúm, Phong Thổ (Lai Châu). Lực lượng vũ trang Việt Nam đã chiến đấu, chặn đứng quân thù ở đây 20 ngày.
Cùng lúc đó, một cuộc chuyển quân thần tốc của 3 quân đoàn chủ lực Việt Nam trở về bảo vệ biên giới diễn ra bằng đường biển, đường bộ và đường hàng không. Liên Xô lập cầu hàng không tương trợ cho Việt Nam, đưa quân từ mặt trận Campuchia ra thẳng miền Bắc tham chiến.
Cuộc thảm sát phụ nữ, trẻ em của quân Trung Quốc ở Cao Bằng.

Người lính đầu tiên ngã xuống ở mặt trận biên giới phía Bắc

Trước khi phát động chiến tranh xâm lược tháng 2/1979, Trung Quốc đã dựng nên sự kiện "nạn kiều" khiến tình hình biên giới hai nước căng thẳng. Ngày 12/7/1978, nước này bất ngờ ra lệnh đóng cửa biên giới khiến hàng nghìn người Hoa bị dồn ứ ở cửa khẩu, gây náo loạn vùng biên.
Ngày 27/8/1978, Lê Đình Chinh (Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2, Trung đoàn 12, Bộ tư lệnh Công an vũ trang nhân dân, nay là Bộ đội Biên phòng) bị công an biên phòng Trung Quốc vượt biên sát hại khi đang bảo vệ cán bộ làm nhiệm vụ động viên người Hoa trở về làm ăn sinh sống. Anh hy sinh trên đồi Pù Tèo Hào, sát km số 0, là chiến sĩ đầu tiên ngã xuống ở mặt trận biên giới phía Bắc khi tròn 18 tuổi.

Tổng động viên toàn quốc ngày 5/3/1979

Sáng 5/3, chương trình phát thanh 90 phút của Đài Tiếng nói Việt Nam phát bản tin đặc biệt: "Hỡi đồng bào và chiến sĩ yêu quý! Quân thù đang giày xéo non sông, đất nước ta... Toàn thể đồng bào các dân tộc anh em trong cả nước, các tôn giáo, các đảng phái, già, trẻ, gái, trai hãy phát huy truyền thống Diên Hồng, triệu người như một, nhất tề đứng lên bảo vệ tổ quốc".
Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp phiên bất thường, quyết định tổng động viên. Cùng ngày, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh 29 - LCT ra lệnh Tổng động viên. Mọi công dân trong lứa tuổi do luật định đều phải gia nhập lực lượng vũ trang bảo vệ tổ quốc. 50 triệu người Việt Nam sẵn sàng cho tình thế chuyển từ thời bình sang thời chiến.
Lời kêu gọi Tổng động viên sáng 5/3/1979

Trung Quốc bất ngờ tuyên bố rút quân

Lệnh tổng động viên được ban bố sáng 5/3, thì chiều cùng ngày phía Trung Quốc bất ngờ tuyên bố rút quân và rêu rao hoàn thành mục tiêu "dạy cho Việt Nam một bài học". Thể hiện thiện chí hòa bình, Việt Nam tuyên bố cho Trung Quốc rút quân.
Ngày 18/3, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân. Trước khi rút, chúng còn tàn phá một số làng mạc, phá hoại công trình di tích, bệnh viện, trường học, giết hại nhiều người dân vô tội.
Trận chiến kéo dài 30 ngày đã hủy diệt 4/6 thị xã dọc biên giới Việt Nam, hàng chục nghìn dân thường thiệt mạng, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em. 400.000 gia súc bị giết, hoa màu bị tàn phá, một nửa trong số 3,5 triệu dân 6 tỉnh biên giới mất nhà cửa, tài sản.
Phía Trung Quốc bị diệt 62.500 tên, 550 xe quân sự trong đó có 220 xe tăng, xe bọc thép (hơn một nửa số tham chiến) bị bắn cháy, 115 đại bác và súng cối hạng nặng bị phá hủy…
Giới phân tích nhận định, thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc đã nhận lấy bài học quân sự đắt giá.
Cuộc chiến đẩy quan hệ Việt - Trung rơi vào thời kỳ đen tối, tạo hố sâu ngăn cách suốt thời gian dài.

Cuộc chiến kéo dài 10 năm

Trên thực tế, chiến tranh biên giới phía Bắc kéo dài suốt 10 năm (1979-1989) khi Trung Quốc duy trì nhiều sư đoàn, trung đoàn độc lập áp sát biên giới lấn chiếm lãnh thổ, biến Việt Nam thành thao trường. Các đơn vị chủ lực Việt Nam thay phiên nhau bổ sung quân cho chiến trường phía Bắc. Nhiều đợt nhập ngũ diễn ra.Hàng nghìn thanh niên Việt Nam tuổi 18-20 mãi nằm lại biên cương trong cuộc chiến này.

Chiến trường Vị Xuyên 1984-1989

Mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) trở thành vùng chiến sự ác liệt nhất trong cuộc chiến chống xâm lấn biên giới. Từ tháng 4/1984 đến 5/1989, Trung Quốc đưa hơn 500.000 quân của 8 trong 10 đại quân khu đánh chiếm biên giới Vị Xuyên. Việt Nam có 9 Sư đoàn chủ lực tham chiến, chưa kể nhiều trung đoàn, tiểu đoàn các quân khu, quân của Bộ Quốc phòng và tỉnh thành khác.
"Trung Quốc chọn Vị Xuyên để đánh vì có hệ thống điểm cao biên giới tạo nên thế trận phòng ngự tiến công liên hoàn, chiếm được thì có thể uy hiếp thị xã Hà Giang, đưa quân thọc sâu vào đất liền nước ta. Những nơi khác như Đồng Đăng, Hữu Nghị (Lạng Sơn) là khu vực quốc tế quan sát rõ, nhưng nếu đưa lực lượng lớn vào Vị Xuyên thì ít bị chú ý. Đến giờ, có lẽ nhiều người không biết Vị Xuyên nằm ở đâu", thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 2, tham mưu trưởng mặt trận Vị Xuyên thời kỳ 1985-1989 nói.
 

Chiến dịch MB 84 giành lại cao điểm

Từ ngày 28/4 đến 16/5/1984, quân Trung Quốc lần lượt chiếm đóng trái phép nhiều cao điểm 226, 233, 685, 772, 1030, 1250, 1509… thuộc tỉnh Hà Giang. Sư đoàn 312, 316, 356 được lệnh tiến hành chiến dịch MB84, phản công giành lại các điểm cao.
Ngày 12/7/1984, trận mở màn chiến dịch giành lại cao điểm 772 diễn ra ác liệt. Do địa hình bất lợi, quân Trung Quốc được hỏa lực yểm trợ mạnh, hàng nghìn bộ đội Việt Nam hy sinh, riêng Sư đoàn 356 mất khoảng 600 người.
Sau trận đánh, Việt Nam không lấy lại được các cao điểm đã mất, nhưng chặn được Trung Quốc thực hiện mưu đồ vượt qua ngã ba Thanh Thủy để tiến xuống thị xã Hà Giang.

Cuộc chiến giữ chốt biên cương

Từ tháng 7/1984 trở đi, mặt trận Vị Xuyên không lúc nào ngơi tiếng súng, hai bên giành giật nhau từng vị trí trên các cao điểm. Đỉnh điểm đầu năm 1985, có ngày quân Trung Quốc bắn 30.000 quả đại bác vào Vị Xuyên ở chiều rộng 5 km, chiều sâu 3 km, biến cao điểm 685 thành "lò vôi thế kỷ", có điểm bị bạt 3 m.
Bộ đội Việt Nam 7 lần thay phiên chiến đấu cấp trung đoàn, sư đoàn để giữ chốt, tổ chức bao vây, đánh lấn dũi để giành và giữ các vị trí cao điểm. Bình quân mỗi đợt đóng quân của các đơn vị kéo dài 6-9 tháng. (Trước đó, cuộc chiến phòng ngự ở Thành cổ Quảng Trị chỉ 82 ngày đêm, chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum 179 ngày).

Việt - Trung bình thường hóa quan hệ

Cho đến nay chưa có tài liệu chính thức công bố tổng số thương vong của hai phía trong cuộc chiến kéo dài 10 năm này. Theo thống kê của Ban liên lạc cựu chiến binh mặt trận Vị Xuyên, từ năm 1984 đến 1989 hơn 4.000 bộ đội Việt Nam hy sinh, hàng nghìn người bị thương, hơn 2.000 liệt sĩ chưa tìm thấy hài cốt.
Năm 1988, tình hình biên giới dần lắng dịu khi hai bên chủ động rút dần quân. Ngày 26/9/1989, đơn vị cuối cùng của quân tình nguyện Việt Nam rời khỏi Campuchia. Các "ngòi nổ" căng thẳng được tháo ra ở cả phía Bắc lẫn phía Nam.
Năm 1991, Việt - Trung tuyên bố bình thường hóa quan hệ.

38 năm sau cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc

Vì nhiều lý do, cuộc chiến biên giới phía Bắc trong suốt thời gian dài ít được nhắc đến. Nhiều người không biết hoặc không tin từng có một cuộc chiến khốc liệt kéo dài suốt 10 năm.
Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 chỉ vỏn vẹn 11 dòng đề cập đến cuộc chiến biên giới phía Bắc. GS Vũ Dương Ninh, đồng chủ biên cuốn sách cho biết, vì nhiều lý do nên nội dung này bị sửa đi sửa lại rồi rút từ 4 trang xuống còn 11 dòng. Các tác giả không thỏa mãn và cho rằng lịch sử phải khách quan nhưng cuối cùng đành chấp nhận.
"Đây là cuộc chiến tranh quy mô lớn, cuộc động binh xâm lược mà không dùng từ nào khác để diễn tả đúng bản chất của nó. Nếu không đề cập đến thì mười lăm, hai mươi năm nữa con cháu lớn lên không hiểu gì về mối quan hệ Việt - Trung giai đoạn này. Để cho thế hệ sau không biết gì hoặc hiểu sai về cuộc chiến là có tội với lịch sử", PGS Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Viện trưởng Lịch sử Đảng nói.
Vài năm nay vào dịp tháng 7, những người lính từng chiến đấu ở mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) vẫn "hành quân" về biên giới phía Bắc, cùng nhau hát "Về đây đồng đội ơi", đọc bài văn tế Những chiến sĩ con dân đất Việt/ Khi Tổ quốc cần tuổi xuân đâu tiếc/ Lưng trần, cắp súng xung phong/ Đạn xé nát vai đạn cày rách mặt/ Súng trên tay rực rửa/ Xung phong giữ đất biên thùy.

Hoàng Phương

Bài có sử dụng tư liệu đồng nghiệp. 

Chiến tranh biên giới 1979 - Không sợ kẻ thù, chỉ sợ lãng quên

               


Một ngày cuối hè năm 1979, Long về nhà. U anh đang sàng gạo ngoài sân. Long dừng chân cạnh u: “U đang sàng gạo ạ?”. Người mẹ chẳng ngước mắt lên, chỉ nói “Ừ”. Rồi lại cặm cụi làm.
Long bước vào nhà. Lúc này u mới nhìn theo: bà tưởng cái bóng áo xanh lúc nãy là một anh bộ đội ở doanh trại gần nhà đi ngang qua hỏi thăm. Sao lại bước vào nhà? “Ô thằng Long đấy à?” - bà thốt lên. Rồi u chạy vào, ôm chặt Long khóc nức nở.
U đã đòi lập bàn thờ anh được mấy tháng - nhưng thầy anh cản không cho. Thằng Long chưa chết, thầy anh quả quyết, không biết vì sao. Đã mấy lần thầy lên biên giới, cố tìm xác con, nhưng không thấy.
Hôm ấy, cả làng kéo đến nhà Long, bỏ cả buổi xem vô tuyến ở doanh trại bộ đội. Mừng tủi. Đã nửa năm trôi qua, chẳng ai nghĩ Long còn sống.
Làng Trường Lâm ở ngoại ô Hà Nội này, 7 đứa đi chiến trường biên giới, thì đã có bốn người vĩnh viễn không trở về.
Âu Xuân Long nhập ngũ tháng 5/1978. Sau một đợt huấn luyện ngắn, Long được điều lên Văn Lãng, Lạng Sơn. Chàng trai vừa tròn 18 vẫn hồn nhiên như trẻ con. “Trên cột mốc hồi ấy có cây bưởi sai lắm, vẫn ở tuổi tranh nhau cái gậy để chọc bưởi mà, có biết gì đâu” - anh nhớ rất chi tiết những ngày tháng bình yên ấy. Từ quả đồi nơi đóng quân nhìn xuống là biên giới, bà con trong bản vẫn lại qua bình thường buôn bán.
Mọi chuyện chỉ bắt đầu thay đổi từ tháng 8. Buổi sáng 25/8/1978, cách chỗ Long đóng quân chỉ vài cây số, một người bạn đồng niên hy sinh.
Trên đồi Pù Tèo Hào hôm ấy, chiến sĩ Lê Đình Chinh ngã xuống sau một nhát dao của những kẻ thù mặc thường phục tràn từ bên kia biên giới sang. Anh vừa 18 tuổi. Sau này, người ta tìm thấy một lá thư anh Chinh viết ba ngày trước hôm đó.

"Em xác định rằng trong cuộc chiến đấu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc sẽ có mất mát, cái đó khó mà tránh khỏi. Nhưng em đã sẵn sàng".Lê Đình Chinh


Liệt sĩ Lê Đình Chinh
Người ta gọi Lê Đình Chinh là chiến sĩ đầu tiên hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Ngày 25/8, trong trí nhớ Âu Xuân Long, trở thành dấu mốc của sự căng thẳng leo thang. Phía Trung Quốc bắt đầu tăng tuần suất bắc loa qua biên giới tuyên truyền kích động bằng tiếng Việt. Long không nhớ nội dung chúng nói: “Nói vớ vẩn, nghe làm gì”.
Giai đoạn đó, hai bên đều chưa có động thái quân sự chính thức. Nhưng phía Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng việc chống lại một cuộc tấn công: dân quân được huy động để cắm chông dọc biên giới. “Mình cứ cắm nó lại nhổ” - Âu Đức Thành, một trong 3 người lính của làng Trường Lâm may mắn trở về, nhớ lại.
Căng thẳng cứ thế tiếp diễn trong hơn nửa năm tiếp theo, cho đến khi kẻ thù đi bước đầu tiên của mình.
5 giờ sáng 17/2/1979, bầu trời biên giới bỗng sáng rực.
Âu Đức Thành đóng quân cách biên giới hơn 10km. Đêm ấy, nhìn về phía chân trời, anh thấy những luồng sáng như chớp trước cơn giông lớn. “Trung Quốc đánh mình rồi” - anh nói với đồng đội. Một cơn mưa đạn pháo trút sang từ phía Bắc. Cuộc chiến tranh biên giới 1979 chính thức bắt đầu.
Long và Thành là lính của Trung đoàn 12, Sư đoàn 3 - những người trấn giữ Đồng Đăng, trận địa ác liệt nhất của cuộc chiến tranh biên giới.
Nhiều đồng đội của các anh, những người cùng tuổi mười tám đôi mươi, đã nằm lại trong cuộc giành giật từng tấc đất biên cương.
“Người chết trên đất thì không sao, nhưng chết dưới ruộng thì ám ảnh lắm” - Thành kể về những ngày đi khâm liệm cho đồng đội. Người chết dưới ruộng, xác sẽ trương lên. Anh không nhớ mình đã chôn bao nhiêu đồng đội. Không có gì để liệm, chỉ có chính võng và tăng (tấm che trên võng) của người chết, cuốn lại, rồi chôn. “Mùi tử khí ám vào người, có những ngày không ăn nổi cơm”.

Hai người bạn chăn trâu cùng làng của Long và Thành hy sinh ở Pháo Đài Đồng Đăng ngày 22/2. Pháo đài ấy đã đẩy lùi hàng chục cuộc tấn công cấp sư đoàn của Trung Quốc trong 5 ngày liên tục. Họ cương quyết không nghe những lời kêu gọi đầu hàng cho đến tận phút cuối. Quân Trung Quốc phá cửa, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, hóa chất vào các lỗ thông hơi, giết cả những người dân vùng xung quanh đang lánh nạn tại nơi này.

Trẻ em biên giới tháng 2/1979
Âu Xuân Long bị địch bắt vào cuối tháng 2. Đời tù binh khởi đầu bằng những trận đòn thù. “Chúng nó bắt được mình thì phải đánh thôi. Anh em bạn bè nó vừa chết mà” - người đàn ông tóc đã bạc gần hết, kể bình thản. Ông bị địch đưa đi mấy ngày mấy đêm, rồi nhốt ở một ngôi trường bỏ hoang, cùng với vài chục bộ đội và hơn hai trăm người dân thường.
Cuộc tấn công dã man không chỉ hướng vào quân đội Việt Nam. Hơn 10.000 dân thường đã thiệt mạng trong cuộc chiến. Mục tiêu của Trung Quốc là một cuộc tấn công phá hoại.
Hàng nghìn công trình công cộng, từ ủy ban, trường học, bệnh viện và xí nghiệp; hàng vạn ngôi nhà và héc-ta hoa màu bị phá.
Long được thả trong đợt trao đổi tù binh ngày 20/6/1979. Anh đi bộ từ cửa khẩu xuống chợ Đồng Đăng, và nhận ra rằng thị xã đã biến mất. “Vắng lạnh lắm. Chúng nó phá từ cái cột điện đến cầu cống”.
Một nửa trong số 3,5 triệu đồng bào sống dọc biên giới phía Bắc, đã mất nhà cửa sau cuộc chiến ấy.
"Chỉ còn nhà sàn của đồng bào dân tộc là nó tha. Còn lại bất kỳ một cái gì bằng xi măng là chúng phá".Âu Xuân Long
Năm 1975, khi nghe tin miền Nam đã được giải phóng, cậu bé Âu Xuân Thành khi ấy đã vô cùng háo hức. Cậu nghe kể rằng miền Nam rất giàu có, và nghĩ: thống nhất được miền Nam thì sướng rồi. “Thấy người ta bảo vùng Đồng Tháp Mười thẳng cánh cò bay, ruộng lúa chẳng cần cầy cấy gì, cứ gieo hạt xuống là rung đùi chờ có gạo ăn thôi. Nghĩ thế là sắp sướng rồi” - ông nhớ lại - “Hồi ấy vẫn còn nghĩ ấu trĩ như thế”.
Sự háo hức qua đi rất nhanh. Năm 1977, căng thẳng Việt-Trung bắt đầu được đẩy lên cao. Năm 1978, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Năm 1979, Âu Đức Thành cầm súng tham gia chiến tranh biên giới phía Bắc. Ra quân, đi học lái xe rồi trở thành quân nhân chuyên nghiệp, hơn 40 năm sau, cậu bé Thành ngày nào - bây giờ đã nghỉ hưu với hàm trung tá - nhận ra một thực tế.

"Bây giờ nghĩ lại, đất nước mình chưa có lúc nào bình an".
Âu Đức Thành

Sau chiến tranh biên giới 1979, căng thẳng biên giới vẫn tiếp diễn. Năm 1984, Trung Quốc lại mở cuộc tấn công quy mô lớn vào Hà Giang. Lại một lớp thanh niên nữa của ngôi làng nhỏ bé này ra đi, lại có người không trở về.
Và ngay cả những người trở về cũng chưa lành vết thương chiến tranh, dù hơn 30 năm đã trôi qua.

Thương binh Lương Văn Hường đã mất bàn chân trái ở chiến trường biên giới.
Ông Hường không còn bàn chân trái. Ông đã để lại nó ở Vị Xuyên, Hà Giang, và mang về rất nhiều mảnh đạn trong người - đến bây giờ vẫn chưa lấy hết ra. Nhưng trong trí nhớ của ông, ký ức về cuộc chiến bây giờ đã mờ: cái người cựu chiến binh đối mặt, là cơm áo.
Chiếc xe thương binh để ngoài cửa, chờ có ai vô tình biết số điện thoại gọi đến thì đi. “Người ta giả thương binh, nhưng có sức khỏe, chạy như trâu. Mình què quặt, chỉ ngồi chờ người ta gọi, không kiếm ra tiền”.
Cuộc nói chuyện với ông Hường, không phải là về ký ức huy hoàng của những ngày bảo vệ biên giới. Ông phàn nàn về chế độ với con cái, thỉnh thoảng bị chính quyền “quên”, về những ngày kỷ niệm qua loa, về chính sách.
Ông cũng chẳng hào hứng lắm khi kể về chiến tranh. “Nhà báo có viết thì viết về bọn giả danh thương binh ấy” - ông nhắc đi nhắc lại lời đề nghị. Đấy là nỗi ám ảnh lớn nhất của người đàn ông sắp bước sang tuổi lục tuần.
Sự vinh danh đáng kể nhất mà những cựu binh biên giới - như trong mắt ông Hường - nhận được đến hôm nay, lại là việc người ta giả danh họ, khoác những chiếc áo xanh lá mạ, để kiếm ăn.
“Có một cuộc kỷ niệm cấp tỉnh, cấp nhà nước nào về chiến tranh biên giới không nhỉ?” - ông Thành hỏi người viết. Ông không nhớ rằng có. “Con cái bây giờ, kể cho chúng nó nghe, như kể chuyện cổ tích. Trên TV đài báo có nhắc đến mấy đâu mà chúng nó biết” - người lính già than thở.
Ông không muốn những gì đã diễn ra bị lãng quên. “Phải nhớ chứ. Bây giờ hàn gắn rồi, thì mình không kích động, không hằn thù, nhưng không thể quên được. Phải nhớ là đất nước mình không một ngày bình yên”.
Không chỉ có những cựu binh sợ rằng cuộc chiến tranh ấy sẽ bị lãng quên.
Đó là ngày 17/2/2016, thầy Vũ Văn Khánh quyết định rằng mình sẽ tự tổ chức một cuộc tưởng niệm Chiến tranh biên giới.


Học sinh trường THPT An Thới (Phú Quốc, Kiên Giang) tưởng niệm chiến tranh biên giới.
Khánh là một thầy giáo dạy văn ở trường THPT An Thới, Phú Quốc, Kiên Giang. Anh thú nhận rằng tới tận năm ngoài 30 tuổi, anh mới lần đầu tiên hiểu kỹ về Chiến tranh biên giới 1979. “Ở ngoài đảo, mình không có điều kiện tiếp cận thông tin, vào Internet, sách giáo khoa thời mình thì không nhắc đến mấy” - anh kể. Khi biết đến, Khánh đã phải nhờ rất nhiều bạn bè ở các trường đại học gửi tài liệu cho đọc, để biết thêm về cuộc chiến ấy. Anh quyết định rằng mình sẽ không để các em học sinh phải chịu điều ấy - dù anh là một thầy giáo dạy văn, không phải dạy sử.
Tiết học Khánh chọn, là sau khi anh giảng xong cho học sinh về “Bình Ngô đại cáo” - tác phẩm tuyên bố chủ quyền dân tộc trước giặc xâm lăng phương Bắc.
Anh dành một tiết học ngồi kể cho học sinh về cuộc chiến, về diễn biến, và những đau thương mà nó mang lại. Rồi người thầy giáo khóc. Gia đình anh cũng có nhiều liệt sĩ. Anh nhớ bà ngoại, mất chồng từ năm 26 tuổi, nhớ người cậu ruột hy sinh ở chiến trường biên giới Tây Nam. Học sinh trong lớp cũng đồng loạt khóc theo. Rồi cả lớp đứng dậy, dành một phút tưởng niệm cho những người đã ngã xuống trong ngày 17/2/1979.
Tiết học ấy sau này trở nên nổi tiếng trên báo chí. Bởi vì nó đặc biệt: những cuộc tưởng niệm như thế không được tổ chức ở nhiều nơi trên đất nước, đặc biệt với những người ngoài quân ngũ.
Nhưng năm nay, gọi điện lại, thầy giáo Khánh tâm sự rằng có lẽ mình sẽ vẫn chỉ tổ chức kỷ niệm cho những lớp anh đứng - với tư cách cá nhân. Sách giáo khoa lịch sử, vẫn chỉ có 11 dòng về chiến tranh biên giới, và nhiều nơi thậm chí 11 dòng này còn được đưa vào chương trình giảm tải, nghĩa là học sinh tự đọc.
Ở trên khắp đất nước, còn có bao nhiêu thanh niên như Khánh, sinh ra ngay sau khi tiếng súng vừa im, đã ngoài 30 nhưng chưa một lần được nghe về “Chiến tranh biên giới”?
Thậm chí là chính những lính năm ấy cũng đang quên. Họ đều đã già. Bây giờ mỗi năm, đến ngày 15/5, ngày thanh niên trong làng nhập ngũ năm 1978 ấy, ông Thành lại đứng ra gọi anh em đồng ngũ gặp mặt. “Không phải để nhậu đâu, mà để nhắc nhau nhớ lại”. Những người lính già, sau bao nhiêu năm chiến đấu với cơm áo, có khi cũng chẳng còn nhớ được chính mình đã làm gì.
“Phải ngồi lại với nhau, để người này nhắc người kia, ngày ấy mày làm gì, làm gì. Không thì chẳng nhớ được đâu” - ông Thành kể.
Những người lính già ấy, nói về chiến tranh với một vẻ đầy bình thản. Nhưng họ chua chát khi nói về sự lãng quên. Chính bản thân họ, sau bao nhiêu năm, cũng không cưỡng lại được sự phai mờ của ký ức. Họ sợ sự quên ấy, chứ không sợ kẻ thù.

Đức Hoàng / Ảnh: Trần Mạnh Thường

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

Trung Quốc đang làm gì ở Trường Sa


Trên chiếc thuyền cá lênh đênh giữa đại dương, trước sóng dữ và mưa xối xả, một phóng viên ra quần đảo Trường Sa và phát hiện ra rằng những nơi trước kia chỉ là đá ngầm nay đã bị Trung Quốc biến thành đảo.
123456-9419-1410341546.jpg
Hoạt động cải tạo đất phi pháp của Trung Quốc trên bãi Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa. Ảnh do quân đội Philippines chụp được mùa hè năm nay. Ảnh: Inquirer
Rupert Anthony Wingfield-Hayes là phóng viên kỳ cựu của BBC làm việc ở Tokyo. Anh vừa thực hiện chuyến đi trên tàu cá của ngư dân Philippines đến Trường Sa với mục tiêu xác minh cáo buộc gần đây của quốc tế cho rằng Trung Quốc đang đào đắp, cải tạo thực địa ở các bãi đá ngầm trên Biển Đông. 
Sau đây là một phần của đoạn băng ghi lại những điều anh thấy trong hành trình.
"Chân trời có thứ gì đó trông như là đất liền, theo lẽ thường thì đó không thể là một hòn đảo. 
"Thiết bị định vị toàn cầu cài đặt phần mềm mới nhất của tôi cho thấy phía trước kia chỉ là một bãi đá ngầm. Nhưng hãy nhìn xem, đó chắc chắn không thể là bãi đá ngầm được. Đó là một hòn đảo thật sự. Chỉ vài tháng trước thôi, hòn đảo đó không hề hiện diện ở đây.
"Khi thuyền tiến lên để tiếp cận gần hơn hòn đảo nhỏ thì thời tiết bắt đầu xấu đi. Mưa rơi nặng hạt, hòn đảo dần biến mất khỏi tầm mắt dưới làn mưa trắng xóa.
"Chiếc thuyền lại hướng về phía nam theo lộ trình ban đầu. Mưa đã ngừng hẳn. Sau khoảng 4 tiếng, chúng tôi gặp một thuyền cá của Việt Nam, đồng thời ngay trước mắt, một hòn đảo khác lại xuất hiện, nó còn to hơn cả cái tôi thấy lúc trước.
"Khu vực phía sau tôi được gọi là bãi Johnson South Reef", anh nói tiếp, dùng tên tiếng Anh cho bãi đá Gạc Ma thuộc chủ quyền của Việt Nam, bị Trung Quốc đánh chiếm trái phép năm 1988.
Gac-Ma-3899-1410345074.jpg
Công trường xây dựng của Trung Quốc trên đảo Gạc Ma. Ảnh: BBC
"Chỉ vài tháng trước nó là một bãi đá ngầm mà Trung Quốc tự tuyên bố nắm quyền kiểm soát. Hiện tại mọi người có thể thấy, nó đã biến đổi thành một công trường xây dựng khổng lồ. Và đây chính là thứ mà chính phủ Philippines nghĩ Trung Quốc đang tạo dựng: một đường băng trên Biển Đông", Hayes nói.
"Hàng triệu tấn đá và cát được nạo vét lên từ đáy biển rồi bơm vào khu vực đá ngầm này để tạo nên vùng đất mới.
"Thậm chí thuyền trưởng người Philippines cũng cảm thấy sốc với những gì được nhìn thấy. 'Trước kia, chúng tôi thường xuyên tới đây', thuyền trưởng nói. 'Vậy mà bây giờ nó lại đang được xây dựng, tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ không thể đặt chân đến nơi này'.
"Thuyền tới gần hơn, phía Trung Quốc lập tức bắn pháo sáng lên không trung, đưa ra lời cảnh báo "Hãy rời đi".
"Trung Quốc muốn biến vùng biển này thành cái ao của họ".
Video: Chuyến đi Trường Sa của phóng viên BBC
Những gì phóng viên Rupert Anthony Wingfield-Hayes đưa ra trong video là bằng chứng rõ ràng về điều mà thế giới nghi ngờ, sau khi Philippines công bố loạt ảnh hoạt động đào đắp và xây dựng các công trình trên 5 bãi đá ở quần đảo Trường Sa mùa hè năm nay. Đây là nơi đang tồn tại các tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa nhiều nước ASEAN với Trung Quốc.
Năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã ký Tuyên bố chung về Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC), trong đó quy định không bên nào được phép thay đổi hiện trạng, không làm phức tạp hoặc gia tăng tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định trong khu vực.
Được hỏi về phóng sự này, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Doanh hôm qua ngang nhiên nói rằng các hoạt động của họ trên những đảo và bãi ngầm ở Trường Sa là "hợp pháp". Khi phóng viên hỏi dồn về mục tiêu của việc xây dựng các công trình, bà Hoa nói việc này để "cải thiện điều kiện sống của các cư dân trên đó", và  nhất quyết từ chối nói về mục đích thực sự của việc đào đắp đất và xây cất công trình.
"Xét từ câu trả lời của bà Hoa, liệu có phải Trung Quốc sẽ có người sống và làm việc trên các đảo đó", bình luận viên Shannon Tiezzi của tạp chíDiplomat đặt câu hỏi. "Những người sẽ đến sinh sống ở đó là thường dân hay quân sự, điều đó hiện nay chưa ai biết được".
Vũ Hoàng

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

Chuyên gia gợi ý cách Mỹ đáp trả Trung Quốc ở Biển Đông

Theo chuyên gia Mỹ, nước này nên ủng hộ luật pháp cho Biển Đông hoặc đưa lực lượng hải quân tuần tra chung với các nước đối thủ của TQ.  

Trong các cuộc tranh chấp chủ quyền với Philippines và Việt Nam trên Biển Đông, Trung Quốc đã điều động tàu hải cảnh và các phương tiện bán quân sự khác. Tuy nhiên, tàu chiến hải quân, máy bay chiến đấu và các vũ khí khác vẫn được giữ ở xa nơi tranh chấp. Do đó cuộc đối đầu trên biển mới chỉ diễn ra giữa các tàu không vũ trang hoặc bán vũ trang.
Chuyen gia goi y cach My dap tra Trung Quoc o Bien Dong
Ngày 29/3, một tàu hải cảnh Trung Quốc chặn tàu Philippines tiếp tế cho các thủy thủ nước này ở bãi Cỏ Mây. 
Theo giáo sư James R. Holmes tại ĐH Chiến tranh hải quân Mỹ, các nhà lãnh đạo Mỹ phải hiểu rõ bản chất của tình trạng Biển Đông hiện nay, đối chiếu với mong muốn của Washington và xã hội Mỹ về khu vực này đồng thời huy động các nguồn lực – ngoại giao, hải quân (tàu chiến, máy bay), nhân lực, vân vân – để đem đến một kết cục có thể chấp nhận được.
Bản chất của tình trạng đối đầu chiến lược

Thực chất tình trạng đối đầu hiện nay trên Biển Đông là gì? Đó là quá trình ganh đua chiến lược dai dẳng giữa Trung Quốc và Mỹ nhằm trả lời câu hỏi liệu Bắc Kinh có thể đơn phương hành động nhằm thay đổi trật tự thế giới do Mỹ đứng đầu hay không.

Nếu thành công, Trung Quốc sẽ tạo ra một tiền lệ theo đó nước này sẽ chiếm các vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng được luật biển công nhận đồng thời hạn chế quyền tự do đi lại trên các vùng biển mà nước này kiểm soát. Trung Quốc sẽ biến các vùng biển ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á trở thành vùng biển khép kín chịu sự quản lý của luật pháp nước này. Điều đó cũng có nghĩa các mối quan hệ đồng minh của Mỹ trong khu vực sẽ bị nới lỏng.


Các nhà bình luận Trung Quốc coi vùng biển thuộc cái gọi là “bản đồ 9 đoạn” chiếm gần hết diện tích Biển Đông là “đất xanh của quốc gia” nơi Bắc Kinh “có chủ quyền không thể tranh cãi”.

Đưa chính sách về biển của nước này vào vấn đề chủ quyền – một khái niệm khơi dậy tinh thần dân tộc của cả các quan chức và dân thường – các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã kích động cảm xúc dư luận mà sau này họ sẽ rất khó rút lui. Mặc dù giới lãnh đạo Trung Quốc có thể sẽ hoãn lại các kế hoạch khẳng định chủ quyền nếu đón nhận phản ứng mạnh mẽ từ các nước khác, nhưng khó có khả năng Bắc Kinh sẽ không từ bỏ tuyên bố chủ quyền của mình để tiến tới một bộ quy tắc ứng xử trên biển.

'Bóc mẽ' chiêu 'ăn cướp còn la làng' của Trung Quốc (China get out)

(Chính trị Việt Nam) - Đối đầu với Trung Quốc về quân sự Việt Nam không và chưa bao giờ ngán, nhưng trên mặt trận kinh tế, nếu mất cảnh giác là rất nguy hiểm.
Mỹ tấn công Iraq, Afghanistan… rồi gần đây Pháp, Ý tấn công Libya không phải là để chiếm đất đai, mở rộng lãnh thổ mà cái họ cần đạt được là dựng lên một chính phủ mới “thân” họ, sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu chiến lược kinh tế, quân sự của họ hiện tại và tương lai.
Đối với những quốc gia có năng lực quốc phòng mạnh thì dùng đòn kinh tế để làm tan rã quốc gia, thực hiện các “cuộc cách mạng màu” như thời gian gần đây tỏ ra vô cùng hiệu quả.
“Diễn biến hòa bình” Made in China!
Sau 1975 thực tế rõ ràng là có rất nhiều lực lượng thù địch hoạt động chống phá Việt Nam và chúng ta gọi đó là “Chiến lược diễn biến hòa bình”.
Với sự đổi mới tư duy, đa phương hóa trong các mối quan hệ quốc tế, Việt Nam đã từng bước hòa nhập vào thế giới. Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước trên thế giới khiến áp lực “diễn biến hòa bình” giảm hẳn, nhưng có một sức ép, khác-sức ép này nằm trong chiến lược thôn tính Việt Nam vô cùng thâm hiểm mà nhà cầm quyền Bắc Kinh từ xưa đến nay đã triển khai thực hiện từng giờ, từng phút không bao giờ ngơi nghỉ.
Nếu như “chiến lược diễn biến hòa bình” dễ nhận ra bởi mục đích chống phá, phá hoại Việt Nam, dựng nên một chính phủ khác để chi phối, lũng đoạn thì chiến lược thôn tính Việt Nam của nhà cầm quyền Trung Quốc thâm và hiểm ở chỗ nó thực hiện dưới chiêu bài anh em đồng chí, hữu nghị... có mục tiêu chính trị “giống nhau”. 
Cài thế chiến lược thôn tính Việt Nam
Một điều khẳng định được ngay là nếu Trung Quốc không đạt được mục tiêu chi phối Việt Nam là có chuyện ngay. Tùy theo tình hình mạnh yếu khác nhau, họ luôn gây căng thẳng, đe dọa và tiến hành chiến tranh. Xuyên suốt lịch sử Việt Nam và Trung Quốc bao đời nay là vậy.
Gần đây nhất là năm 1979, Khơ me đỏ dưới sự chỉ đạo của Trung Quốc dùng hàng chục sư đoàn quân hiếu chiến tấn công Việt Nam ở biên giới Tây Nam. Thế 2 gọng kìm phía Nam và Tây áp sát Việt Nam là nước cờ rất hiểm, cho nên, từ thời Đặng Tiểu Bình cho đến nay, giới cầm quyền Trung Quốc bám riết lấy để chơi nước cờ này mà không bao giờ từ bỏ. 
1.000 người Việt các thế hệ ngày 16/5 đã tham gia cuộc biểu tình hòa bình tại quảng trường Trocadero ở thủ đô Paris, Pháp
1.000 người Việt các thế hệ ngày 16/5 đã tham gia cuộc biểu tình hòa bình tại quảng trường Trocadero ở thủ đô Paris, Pháp

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

Trung Quốc khoan trúng "núi lửa", loay hoay trong sự bẽ bàng


(Quan hệ quốc tế) - Giàn khoan Hải Dương 981 được sử dụng như một hòn đảo di động để giành chủ quyền, nhưng chính giàn khoan này đang lôi TQ vào một vũng lầy khó thoát

Mục đích và thực tế
Đầu tháng 5/2014, Trung Quốc mang đến vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam một giàn khoan nửa chìm, công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới, được người Trung Quốc tung hô là "tượng đài của sức mạnh năng lượng Trung Quốc."
Tuy nhiên, không chỉ sử dụng trong mục đích kinh tế, giàn khoan này còn được Bắc Kinh sử dụng như một hòn đảo di động để áp đặt việc giành giật chủ quyền trên biển. Theo kế hoạch đề ra, Hải Dương 981 sẽ khoan thử nghiệm tại khu vực vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Nhưng thực tế, phía Việt Nam cho rằng nơi đây khả năng cao không có dầu. Vậy Trung Quốc muốn khoan cái gì ở đó?
Họ muốn khoan thử nghiệm vào phản ứng của thế giới trước sự ngang ngược, bất chấp của họ. Họ muốn khoan thử vào lòng dân Việt Nam, để xem xem sau gần 40 năm kết thúc chiến tranh, nhiều thế hệ mới ra đời, quen sống trong nhung lụa đầy đủ có còn lòng tự tôn dân tộc như ngày còn chiến tranh, còn nghèo khổ.
Có lẽ, đó mới chính là những mũi khoan mà Trung Quốc muốn thử nghiệm. Tiếc rằng, lần này Trung Quốc đã khoan phải miệng núi lửa chứ không phải mỏ dầu. Giàn khoan Hải Dương 981 đã kích hoạt lòng yêu nước của người dân Việt Nam, và đây cũng là thứ vũ khí mãnh liệt nhất, lợi hại nhất mà dân tộc nhỏ bé này có, từ bao đời nay.
Giàn khoan Hải Dương 981 (Haiyang Shiyou 981) và tàu kéo bảo vệ
Giàn khoan Hải Dương 981 (Haiyang Shiyou 981) và tàu kéo bảo vệ
Đồng thời, giàn khoan Hải Dương 981 đã làm Việt Nam tỉnh táo trước những sự hữu nghị viển vông. Như ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia nói trong cuộc họp báo quốc tế về tình hình Biển Đông hôm 23/5, khi phóng viên hỏi về vấn đề mối quan hệ hữu nghị và 16 chữ vàng với Trung Quốc: “Xin khẳng định việc chủ quyền lãnh thổ hết sức thiêng liêng với dân tộc Việt Nam, nên không thể đánh đối được. Vàng rất quý, nhưng chủ quyền quốc gia còn quý hơn vàng.”
Việt Nam cũng nhận thấy rằng cần phải có những sự cẩn trọng hơn với Trung Quốc, từ chính trị, xã hội, kinh tế, quân sự.... Một giàn khoan Hải Dương 981 như một giọt nước làm tràn ly, Việt Nam đã nhận thấy nhiều điều, cần xem xét nhiều thứ, mà trên hết, chủ quyền đang bị đe doạ.
Còn quốc tế, Bắc Kinh sai lầm lớn hơn trên phương diện này. Họ bày ra những lời biện minh ngây ngô, nào là tàu cá Việt Nam muốn tấn công giàn khoan nên tự chìm, nào là cảnh sát biển Việt Nam đâm lực lượng chấp pháp Trung Quốc 171 lần, nào là tàu kiểm ngư Việt Nam tấn công tàu cá vỏ sắt Trung Quốc...
Bắc Kinh quên rằng thế giới đang ở thế kỷ 21, khi đang ở trong một "thế giới phẳng," bạn sẽ không thể che giấu điều gì. Đây không phải cuộc đấu khẩu giữa Bắc Kinh và Hà Nội, bởi những phóng viên quốc tế đang làm nhiệm vụ tương tự như những quan sát viên Liên Hợp Quốc, và sự thực được phơi bày trước ống kính của họ.
Bà Phó Oánh - thiên tài hùng biện của Trung Quốc đã đến Shangri-la quyết đọ thiệt hơn
Bà Phó Oánh - thiên tài hùng biện của Trung Quốc đã đến Shangri-la quyết đọ thiệt hơn
Tại hội nghị Shangri-La 2014, theo phái đoàn của Trung Quốc có một nhân vật rất đáng chú ý là bà Phó Oánh. Nhân vật này được báo chí phương Tây xưng tụng là người phụ nữ có tài hùng biện nhất Trung Quốc, là "nắm đấm thép bọc nhung," là người có khả năng "thổi tung bất kỳ ai ra ngoài Trái Đất bằng lời nói." Nhân vật này đủ cho thấy Trung Quốc muốn hơn thua ở diễn đàn này.
Nhưng thực tế, dù cho có một Phó Oánh hay mười Phó Oánh thì một sự thực mà Bắc Kinh đang phải thừa nhận, chính họ đã tự thổi mình ra khỏi thế giới khi không nhận được bất kỳ một lời ủng hộ nào cho chiến lược, sách lược chủ quyền của họ.
Đồng thời, Trung Quốc đã tạo ra một cái cớ để Nhật Bản bất chiến tự nhiên thành. Thay vì chạy đua tiền bạc với Trung Quốc trong những gói đầu tư, những nguồn vốn vay ưu đãi, Nhật Bản bỗng dưng trở thành người nói lời chính nghĩa, là bậc quân tử. Nhật Bản tỏ ra cho ASEAN thấy có đại nạn mới tỏ tình bằng hữu, và ASEAN chắc chắn sẽ nắm lấy bàn tay mà Nhật đang chìa ra. Trong cuộc đua ngoại giao, ảnh hưởng này, Trung Quốc thua rồi.
Bị cô lập đã là tồi tệ, nhưng tự cô lập còn nguy hiểm hơn nhiều. Trung Quốc có cả hai hoàn cảnh này. Cái giàn khoan không có lỗi, lỗi là ở những người áp đặt mục đích lên nó, và Bắc Kinh không chỉ muốn khoan thử dầu mà còn muốn nhiều phép thử khác, và thực tế mọi phép thử đều khiến họ bẽ bàng.
Việt Nam có thể làm gì?
Dù biết rằng giàn khoan Hải Dương 981 kéo Trung Quốc vào một bãi lầy, nhưng thói dân tộc chủ nghĩa, quan điểm thiên triều ăn sâu vào tiềm thức những người lãnh đạo Trung Quốc thì khó có thể thay đổi. Họ cho rằng họ đang dư thừa sức mạnh, bãi lầy đang kéo họ xuống kia, họ lại nghĩ rằng đã đặt một chân lên việc hiện thực hoá giấc mơ đẹp về một Đại Trung Hoa.
Việt Nam lên án, thế giới phản đối, cô lập hoàn toàn, nhưng với giàn khoan này, Trung Quốc lâm vào ba trường hợp: hoặc cố đấm ăn xôi, chịu nhiều tốn kém, duy trì đến đúng lộ trình tháng 8 thì rút về. Hoặc rút ngay về nước hay một căn cứ quân sự nào gần đó. Ba là để luôn cái giàn khoan ấy ở lại Hoàng Sa hoặc xa hơn là Trường Sa.
Biện pháp một là thượng sách, hai là trung sách, ba là hạ sách với Trung Quốc. Nhưng nếu Bắc Kinh dùng phương pháp thứ ba, điều này chứng tỏ khát vọng, dã tâm của Trung Quốc là đã không thể kìm chế được nữa.
Trong những hoàn cảnh đó, Việt Nam làm được gì? Điều khả dĩ nhất lúc này là kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế. Nếu kiện, Việt Nam sẽ thắng. Nếu thắng, thì đó cũng chỉ là chiến thắng trên bàn ngoại giao, trên phương diện thủ tục pháp lý. Trung Quốc không phải một kẻ tôn trọng luật pháp cho lắm.
Ba tàu Trung Quốc vây đánh tàu kiểm ngư của Việt Nam
Ba tàu Trung Quốc vây đánh tàu kiểm ngư của Việt Nam
Bên cạnh đó, cần một sự chuẩn bị. Sự chuẩn bị ở đây không chỉ là mua sắm khí tài quân sự hay tăng chi tiêu quốc phòng. Việt Nam cần phải có một sự đầu tư hơn về quan hệ quốc tế, chuẩn bị những đường lùi cho mình khi đối tác chính của nền kinh tế là Trung Quốc có trắc trở…
Và biện pháp tốt nhất vào thời điểm này, đó là quốc tế hóa, đưa vấn đề Biển Đông ra thế giới một cách công khai, Việt Nam có thể hoàn toàn mang những lợi ích kinh tế trên vùng đặc quyền của mình để hợp tác với đa dạng các quốc gia.
Làm được điều này, Trung Quốc có muốn nuốt Biển Đông cũng phải bước qua nhiều cường quốc, Việt Nam bất chiến tự nhiên thành.
Đỗ Minh Tú

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2014

Học giả nước ngoài phê phán hành động của TQ

Nhiều học giả trong và ngoài nước phê phán hành động ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông, tại hội thảo quốc tế về Trường Sa - Hoàng Sa ở Đà Nẵng. 
Hội thảo quốc tế lần thứ hai về Hoàng Sa và Trường Sa với chủ đề Hoàng Sa- Trường Sa: Sự thật lịch sử
Hội thảo quốc tế lần thứ hai về Hoàng Sa và Trường Sa với chủ đề “Hoàng Sa- Trường Sa: Sự thật lịch sử” hôm qua diễn ra tại Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Đông
Hội thảo quốc tế lần thứ hai về Hoàng Sa và Trường Sa với chủ đề “Hoàng Sa- Trường Sa: Sự thật lịch sử” vừa diễn ra tại thành phố Đà Nẵng, với sự tham dự của gần 120 đại biểu gồm các học giả, các nhà nghiên cứu, quan chức trong và ngoài nước.
Các đại biểu trình bày tổng cộng 21 tham luận, cùng hàng chục ý kiến thảo luận trong hai phiên và 4 phần thảo luận. Nội dung chính bao gồm vị trí và tầm quan trọng của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thực tế tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo và các tác động đối với hòa bình và ổn định khu vực châu Á-Thái Bình Dương, luật pháp quốc tế về việc xác lập chủ quyền và giải quyết tranh chấp lãnh thổ, việc xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua các thời kỳ, triển vọng, giải pháp giải quyết tranh chấp hai quần đảo.
Tại hội thảo, các học giả quốc tế Dmitry Mosyakov (Nga), K. Raja Reddy (Ấn Độ), và Jean-Pierre Ferrier (Pháp) đề cập đến những tư liệu pháp lý lịch sử khẳng định các nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền hoà bình, liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là các Châu bản triều Nguyễn, các sách Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí, Phủ biên tạp lục viết về hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải thực hiện lệnh của nhà vua đi khai thác và quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…
Các học giả nhấn mạnh dưới thời Pháp thuộc, Pháp nhân danh Việt Nam thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khi rút khỏi Việt Nam, Pháp bàn giao quyền quản lý hai quần đảo này cho Việt Nam. Các tư liệu pháp lý lịch sử cho thấy Việt Nam đã chiếm hữu “hiệu quả, liên tục và lâu dài” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các ý kiến cũng cho rằng Trung Quốc không có bất cứ bằng chứng thuyết phục nào chứng minh nước này chiếm hữu hai quần đảo này trước khi dùng vũ lực đánh chiếm phi pháp quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và một số bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa năm 1988.
db7-4517-1403278564.jpg
Các đại biểu trong và ngoài nước tham gia hội thảo. Ảnh: Nguyễn Đông
Các học giả phê phán chiến lược và hành động trên Biển Đông với mức độ ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Tướng Daniel Schaeffer, chuyên gia Bộ Quốc phòng Pháp chuyên sâu về vấn đề Biển Đông, phê phán mạnh mẽ tính phi lý của "đường lưỡi bò", cho rằng Trung Quốc đưa ra yêu sách "đường lưỡi bò" không kèm theo bất cứ lời giải thích nào nên hoàn toàn không có giá trị. 
Trong thời gian qua, Trung Quốc ráo riết hiện thực hóa yêu sách phi lý "đường lưỡi bò" bằng các hành động xâm phạm chủ quyền các nước Philippines, Việt Nam, Malaysia. Theo ông Schaeffer, vấn đề “đường lưỡi bò” không thuộc trách nhiệm của riêng nước nào trong khu vực mà là của cả cộng đồng quốc tế, cần phải đạt được sự đồng thuận quốc tế để yêu cầu Trung Quốc từ bỏ yêu sách "đường lưỡi bò".
Tại hội thảo, các đại biểu nhất trí rằng, việc căn cứ vào những chứng cứ pháp lý, lịch sử dựa trên luật pháp quốc tế về quyền thụ đắc lãnh thổ để giải quyết tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì hòa bình, ổn định, đảm bảo tự do, an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông.
Những hành động sử dụng sức mạnh cố ý phá vỡ nguyên trạng, gây bất ổn khu vực, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ nước khác nhằm thực hiện ý đồ độc chiếm Biển Đông của bất kỳ bên nào đều không thể chấp nhận. Các ý kiến tại hội thảo cho rằng hành động của Trung Quốc sử dụng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và chiếm đóng bất hợp pháp một số bãi ở quần đảo Trường Sa năm 1988 là vi phạm luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc. Các đại biểu nhấn mạnh hành động xâm chiếm bằng vũ lực không thể tạo ra chủ quyền.
Nhiều học giả phê phán Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, nhất là các hành động bạo lực của các tàu Trung Quốc với tàu dân sự Việt Nam.
Các học giả kêu gọi Trung Quốc sớm cùng với các nước ASEAN xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) với tính ràng buộc cao để ngăn ngừa những hành động leo thang, gây căng thẳng ở Biển Đông.
Cần coi trọng hơn công cụ pháp lý
Hội thảo quốc tế do Đại học Đà Nẵng và Đại học Phạm Văn Đồng tỉnh Quảng Ngãi đã phối hợp tổ chức
Hội thảo quốc tế do Đại học Đà Nẵng và Đại học Phạm Văn Đồng tỉnh Quảng Ngãi phối hợp tổ chức. Ảnh: Nguyễn Đông
Nhiều ý kiến tại hội thảo cho rằng các nước đang tranh chấp cần coi trọng hơn các công cụ pháp lý và cơ chế trọng tài quốc tế theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Việt Nam có thể sử dụng công cụ pháp lý thông qua Toà Trọng tài theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 để bảo vệ các quyền lợi và lợi ích của mình trước hành vi xâm lấn của Trung Quốc ở Biển Đông.
Giáo sư Jerome Cohen, Chủ tịch Viện luật pháp Mỹ - Châu Á, đề xuất Việt Nam có thể tham gia vụ kiện với Philippines hoặc tự khởi kiện Trung Quốc. Ông khuyến nghị các nước liên quan nên tận dụng sự trợ giúp của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) hay hệ thống thể chế pháp lý của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc.
Các đại biểu sẽ dự Lễ khai mạc Triển lãm “Hoàng Sa - Trường Sa: phần lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam” và các cuộc Tọa đàm chuyên đề đánh giá sâu thêm về hành vi hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc. Chiều nay, các đại biểu tham dự Hội thảo cũng đến thăm tàu cá ĐNa 90152 bị tàu Trung Quốc đâm chìm hôm 26/5 và gặp gỡ các nhân chứng của tàu ĐNa 90152.
Việt Anh